Trang 1 trong 3 123 Cuối cùngCuối cùng
Hiển thị kết quả 1 đến 10 trên tổng số 23
  1. #1
    Nhất giai cao thủ zZzÂn Thừa PhongzZz's Avatar
    Ngày tham gia
    27-05-2010
    Đến từ
    Can Tho city
    Bài viết
    625
    UserID
    1304622
    Danh vọng
    1594
    Lúa
    4,912
    Tiềm năng
    0

    Mặc định [Lịch sử] Ngôi đền của những huyền thoại

    Share
    NGƯỜI NHỆN LEV YASHIN

    Hồ sơ:
    Lev Ivanovich Yashin
    Sinh ngày 22/10/1929 tại Moskva, mất ngày 20/3/1990
    CLB: Dynamo Moskva (1949-1971)
    Với ĐT Liên Xô: chơi 78 trận (1954-1967)

    Thành tích:
    - 2 lần được chơi trong đội hình “Các ngôi sao thế giới” của FIFA (năm 1963 gặp Anh, 1968 gặp Brazil)
    - 4 trận giữ sạch lưới trong 13 trận chơi ở các vòng chung kết World Cup
    - 70 bàn thủng lưới trong 78 lần khoác áo ĐTQG Liên Xô - Hơn 150 quả penalty đã cản phá được trong sự nghiệp thi đấu
    - 207 trận giữ sạch lưới trong 812 trận đấu chính thức
    - 326 trận đá chính cho Dynamo Moskva

    Danh hiệu: 5 lần VĐ Liên Xô (1954, 1955, 1957, 1959, 1963); 3 Cúp QG Liên Xô (1953, 1967, 1970); VĐ Olympic (1956), VĐ châu Âu (1960), hạng 4 World Cup 1966; Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu năm 1963; Thủ môn xuất sắc nhất Liên Xô các năm 1960, 1963, 1966; Thủ môn xuất sắc nhất thế kỷ 20 của FIFA; Thủ môn xuất sắc nhất thế giới thế kỷ 20 của Liên đoàn Thống kê và Lịch sử bóng đá Thế giới (IFFHS); Thủ môn trong đội hình tiêu biểu thế kỷ 20 của FIFA.

    Vinh dự khác: Huân chương Lênin (1967); Huân chương Olympic (1986); Huân chương công trạng vàng của FIFA (1988); Anh hùng Lao động Xã hội chủ nghĩa (1989)

    Thông tin: Chiếc áo đấu đánh số 1 luôn gắn với các thủ môn. Đó không phải chỉ là hình thức. Thủ môn luôn được coi là một nửa sức mạnh của đội bóng. Tóm lại, đó là cầu thủ quan trọng nhất trong việc quyết định thành bại của một đội bóng. Trong đội ngũ những người mang áo số 1 của bóng đá thế giới, Lev Yashin là người vĩ đại nhất.
    Yashin sinh ra ở thủ đô Moskva năm 1929 trong một gia đình công nhân. Cuộc sống khó khăn như bất kỳ gia đình lao động nào. Mùa hè 1942, giữa những năm tháng mịt mù khói lửa của Thế chiến thứ II, cậu bé Yashin bắt đầu làm phụ việc thợ tiện trong nhà máy chế tạo công cụ cơ khí Tusino ở Moskva khi mới 13 tuổi.
    Yashin cũng chơi bóng như bao đứa trẻ khác và tham gia đội bóng thiếu niên của nhà máy dưới sự dẫn dắt của HLV đầu tiên trong đời là Ivan Subin. Yashin bắt đầu bộc lộ năng khiếu và tỏ ra vượt trội so với các đồng đội.
    Khi chiến tranh đã lùi lại phía sau, công cuộc tái thiết và phát triển đất nước trở thành sự nghiệp của toàn dân. Thể thao Liên Xô cũng phát triển rực rỡ trong những năm tháng đó. Năm 1949, Yashin được HLV dạy cả hai môn bóng đá và khúc côn cầu Alekxei Chernyisov mời về chơi CLB thể thao lừng danh của thủ đô Dinamo Moskva. Khi đó, Yashin cũng đã 20 tuổi, độ tuổi tương đối muộn đối với một cầu thủ muốn theo đuổi sự nghiệp thi đấu bóng đá chuyên nghiệp. Thế nhưng, lực cản không chỉ là xuất phát chậm. Điều đáng sợ hơn là tài năng của Yashin không có cơ hội bộc lộ bởi cái bóng quá lớn của đồng đội Alexei Khomich, người khi đó là thủ môn ĐTQG Liên Xô.
    Mòn mỏi trên ghế dự bị sau 3 lần nỗ lực ghê gớm nhưng bất thành để giành vị trí thủ môn trong đội hình chính thức của đội bóng đá CLB này, Yashin đã nghĩ tới việc rẽ sang một con đường khác, đó là khúc côn cầu trên băng. Với tư cách thủ môn đội khúc côn cầu Dynamo Moskva, ông đã giành được Cúp QG khúc côn cầu Liên Xô (1953).
    Nhưng rồi cơ hội đã tới để Yashin có thể ra sân còn bóng đá thế giới có được thủ môn vĩ đại nhất của nó. Khomich bị chấn thương và Yashin được vào sân thi đấu chính thức. Kể từ đó, sự nghiệp thi đấu của ông lật sang một trang mới. Yashin bước ra ánh sáng và không có gì, kể cả bộ quần áo đen kịt đặc biệt ông mặc khi thi đấu có thể che lấp tài năng rực rỡ chưa từng có và có lẽ sẽ không bao giờ có nữa của làng bóng đá.
    Người hâm mộ dành cho Yashin rất nhiều biệt danh ấn tượng. "Báo đen" là để ca ngợi sức mạnh, sức bật và khả năng phản xạ nhanh nhẹn, "Nhện đen" và "Bạch tuộc đen" để nói về khả năng chặn bóng, bắt bóng dính trong những tình huống khó khăn một cách xuất sắc như thể có 8 cánh tay giống loài nhện hay cả chùm vòi như loài bạch tuộc và cả vì trang phục thi đấu đen tuyền của ông. Yashin còn gây chú ý bởi ông rất hay đội một cái mũ dạ màu tro khi chơi bóng.
    Trên sân cỏ, dù không là đội trưởng nhưng Yashin đã luôn là thủ lĩnh trong lối chơi phòng ngự của đội bóng. Thời của ông, việc chỉ định thủ môn làm đội trưởng vẫn là một điều khá xa lạ. Băng đội trưởng vẫn được dành cho thủ lĩnh và ở đa số các đội bóng, thủ lĩnh trên sân không phải là các thủ môn.
    Yashin được coi là người tiên phong trong thay đổi phong cách thi đấu của thủ môn. Đó là không chỉ thụ động cản phá bóng mà phải làm chủ vòng cấm địa và hạn chế tối đa khả năng dứt điểm của đối phương. Phong cách bắt bóng dũng mãnh đậm chất điền kinh thể hiện ở vô số pha bắt bóng rất nhanh, rất quyết liệt ngay trong tầm kiểm soát của tiền đạo đối phương trong suốt sự nghiệp thi đấu kéo dài của Yashin đã giành được thiện cảm của những người hâm mộ trên khắp thế giới.
    Nhờ năng lực vượt trội mà Lev Yashin đã đánh bại Gordon Banks, thủ môn huyền thoại người Anh được sự hỗ trợ ghê gớm về mặt truyền thông, để chiếm chiếc áo số 1 trong phần lớn các cuộc bình chọn đội hình tiêu biểu của thế giới mọi thời đại. Thực tế là chính Banks cũng có lần thừa nhận ông sẽ đưa Yashin vào danh sách nếu phải chọn ra đội hình xuất sắc nhất thế giới. Banks nhận xét: "Ông ấy có những pha cứu bóng vĩ đại, biết di chuyển hợp lý nhất để bảo vệ khung thành và có những đường phát bóng hiểm hóc. Ông ấy cũng là một chính nhân quân tử".
    Tài năng sân cỏ của Yashin đã giúp cho các đội bóng của ông có được thành tích tốt nhất còn bản thân ông đã trở thành biểu tượng cho một thủ môn hoàn hảo. Tất cả mọi chân sút đều tự hào nếu ghi được bàn vào lưới Yashin. Ông là người duy nhất từng được nhận Quả bóng vàng dành cho Cầu thủ xuất sắc nhất năm của châu Âu (vào năm 1963). Ông cũng nổi tiếng với thành tích chặn được khoảng 150 quả penalty trong sự nghiệp thi đấu, thành tích mà có lẽ không thủ môn nào khác làm được. Khi được hỏi về bí quyết của mình, ông nói chẳng rõ đùa hay thật rằng bí quyết thành công là "hút thuốc để bớt căng thẳng và uống rượu mạnh để giãn cơ bắp".
    Theo một số nguồn tin, vẻ bình tĩnh đến mức vô cảm mà Yashin có được, kể cả ở những trận đấu quan trọng và căng thẳng nhất trong suốt sự nghiệp, một phần cũng do ông thường dùng rượu mạnh và hút thuốc để lấy tinh thần trước các trận đấu lớn.
    Cuộc đời thi đấu của Yashin chỉ gắn với một CLB duy nhất là Dynamo Moskva. Sau khi treo găng, Yashin lại đem tình yêu bóng đá và những kinh nghiệm quý báu của mình truyền dạy cho lớp trẻ. Ông từng làm HLV ở nhiều đội bóng nhỏ và các đội bóng trẻ ở Phần Lan.
    Yashin treo găng khi bước sang tuổi 42. Bóng đá trong con mắt Yashin luôn tuyệt vời và mỗi thành công trong lao động bóng đá cũng không kém gì những thành tựu to lớn trong các lĩnh vực khác. Ông từng ví: "Niềm hân hoan khi thấy Yuri Gargarin bay lên vũ trụ chỉ có thể được thay thế bởi niềm vui chặn được một quả penalty".
    Vì những đóng góp xuất sắc của mình cho nhân dân, cho đất nước và nêu cao hình ảnh của một VĐV chân chính, Yashin đã được trao tặng Huân chương Lênin (1967), phần thưởng cao quý thứ hai của Liên Xô. Tại SVĐ Dynamo ở Moskva, người ta đặt một bức tượng đồng tạc hình Lev Yashin.
    Để ghi nhận những đóng góp của Yashin, FIFA bắt đầu trao giải thưởng mang tên Lev Yashin dành cho Thủ môn xuất sắc nhất tại mỗi kỳ World Cup và người đầu tiên được nhận giải này là Michel Preud'homme của Bỉ năm 1994.
    Yashin là bạn của nhiều huyền thoại bóng đá như Pele, Beckenbauer, Eusebio. Bà vợ Valentina nhắc lại kỷ niệm năm 1958 tại Thuỵ Điển, trong một khách sạn, Yashin đang bá vai bá cổ một cầu thủ trẻ da đen bước xuống cầu thang và nói với bà: “Valentina, làm quen với Pele đi. Cậu ấy sẽ trở thành một cầu thủ vĩ đại chưa từng thấy”. Pele nói về Yashin: “Tôi gặp ông lần đầu năm 1958 tại World Cup. Sau đó, chúng tôi còn gặp nhau nhiều lần nữa. Ông ấy là một thủ môn vĩ đại và là một con người có trái tim lớn”.
    Năm 1986, các bác sĩ đã buộc phải cắt cụt một chân của Yashin do đầu gối bị hoại tử. Bốn năm sau, ngày 20/3/1990, thủ môn vĩ đại người Nga này qua đời ở tuổi 51 do những biến chứng phức tạp sau một ca phẫu thuật. Một mất mát ghê gớm của thế giới bóng đá. Yashin đã ra đi nhưng nụ cười hiều hậu còn ở lại. Ông sẽ mãi được nhớ đến với tư cách một nhà thể thao chân chính.
    Sự tôn kính của người hâm mộ và các đồng nghiệp dành cho Yashin là vô bờ bến. Trận đấu tôn vinh những đóng góp của Lev Yashin cho bóng đá do FIFA tổ chức tại SVĐ Lenin ở Moskva năm 1971 đã trở thành một ngày hội lớn của bóng đá thế giới với sự chứng kiến của 100.000 người hâm mộ, một loạt các ngôi sao, trong đó có Pele, Eusebio và Franz Beckenbauer.
    Năm 1999, 9 năm sau khi tạ thế, Yashin được bầu chọn là VĐV xuất sắc nhất nước Nga thế kỷ 20. Một câu tâm sự của ông cho các thủ môn hậu thế : "Tôi không hình dung ra dạng thủ môn không thấy dằn vặt bởi một bàn thủng lưới? Anh ta cần phải đau khổ! Và nếu anh ta cảm thấy chẳng có vấn đề gì, điều đó có nghĩa là đang đi vào một ngõ cụt. Không cần biết anh ta đã làm được gì trong quá khứ, anh ta không có tương lai”.

    CHỦ ĐỀ ĐƯỢC XEM NHIỀU:

    Có tóc đâu ai muốn trọc đầu
    Trả lời có trích dẫn Trả lời có trích dẫn Like  

  2. #2
    Nhất giai cao thủ zZzÂn Thừa PhongzZz's Avatar
    Ngày tham gia
    27-05-2010
    Đến từ
    Can Tho city
    Bài viết
    625
    UserID
    1304622
    Danh vọng
    1594
    Lúa
    4,912
    Tiềm năng
    0

    Mặc định

    THÁNH JOHAN CRUYFF


    Hồ sơ :
    Tên dâỳ đủ : Hendrik Johannes Cruijff (ở ngoài Hà Lan được gọi là Cruyff)
    Sinh ngày 25/4/1947 tại Amsterdam (Hà Lan)
    CLB : Ajax (1964–1973) FC Barcelona (1973–1978) Los Angeles Aztecs (1979–1980) Washington Diplomats (1980–1981) Levante (1981) Ajax (1981–1983) Feyenoord (1983–1984)
    Đội tuyển quốc gia Hà Lan : (1966–1978) 48 trận 33 bàn
    HLV : Ajax (1986–1988) ,FC Barcelona (1988–1996)
    Thành tích :
    - 9 cúp VĐQG Hà Lan (8 ở Ajax Amsterdam và 1 ở Feyenoord).
    - 6 cúp quốc gia Hà Lan (5 ở Ajax Amsterdam và 1 ở Feyenoord).
    - 3 cúp C1 (Ajax).
    - 1 siêu cúp châu Âu (Ajax).
    - 1 cúp liên lục địa (Ajax).
    - 1 cúp quốc gia Tây Ban Nha (Barcelona).
    - 3 quả bóng vàng châu Âu (1971, 1973, 1974).
    - 1 quả bóng đồng châu Âu (1975).
    - 321 bàn thắng trong 553 trận đấu.
    Thông tin :
    Có một số cầu thủ mặc dù chưa một lần vô địch thế giới, nhưng vẫn được xếp... ngang hàng với những tên tuổi lừng lẫy của bóng đá thế giới như Maradona, Pele hay Beckenbauer vì những đóng góp cũng như tài năng tuyệt vời của mình. Một trong số những “ông vua không ngai” đó chính là Johan Cruyff - người Hà Lan bay - với khả năng điều khiển trái bóng cùng tư cách đạo đức trên sân cỏ, ông chính là một trong những tượng đài của “thế giới túc cầu”. Đó là lý do để người ta gọi ông là Thánh Johan!
    Johan Cruyff lớn lên và gắn bó với những khu tập luyện và các khán đài SVĐ Arena của CLB Ajax Amsterdam, nơi mẹ ông làm việc. Bố của Cruyff qua đời sau một cơn đau tim khi cậu con trai mới 12 tuổi. Từ nhỏ Johan Cruyff đã luôn bị ám ảnh phải trở thành cầu thủ vĩ đại của bóng đá thế giới. Những màn trình diễn đầy diễm ảo của ông trên con phố nhỏ của thủ đô Hà Lan luôn mang đến cho người qua đường sự bất ngờ thích thú. Năm 10 tuổi, Cruyff bước chân vào trường đào tạo cầu thủ trẻ của Ajax và 7 năm sau, trở thành cầu thủ trong đội hình 1 của câu lạc bộ (CLB). “Tôi luôn học Di Stefano, ông ấy là người thầy lớn nhất trong đời tôi. Tôi không muốn mình phải giống ai, bởi đơn giản tôi là Johan Cruyff. Chỉ có một người duy nhất làm tôi nể phục, đó là Di Stefano. Tôi không dám nói một ngày nào đó tôi được như ông ấy, nhưng tôi ao ước điều đó một cách cùng cực, bởi ông ấy là thầy tôi...” - Johan Cruyff nói. Huyền thoại bóng đá Di Stefano (CLB Real Madrid - Tây Ban Nha) là thần tượng đầu tiên và duy nhất trong đời chàng trai Hà Lan ngạo mạn này.
    Thời gian đó, HLV huyền thoại Rinus Michel muốn chiêu mộ các tài năng trẻ cho đội bóng. Ông đã lập một chương trình đào tạo và tuyển mộ những nhân tài trẻ tuổi. Và chính Cuyff chứ không phải ai khác nổi lên như một “vì sao” chắc chắn sẽ tỏa sáng trong tương lai. Với những màn trình diễn của một “người lạ”, Cruyff đã được đá chính trong đội hình 1 của Ajax năm 17 tuổi và 2 năm sau, vào năm 1966, chàng thanh niên trẻ tuổi khi đó nâng cao chiếc cúp vô địch Hà Lan đầu tiên trong số 9 lần lên ngôi trong sự nghiệp của mình.
    Với việc tỏa sáng trong đội hình CLB Ajax, Cruyff trở thành một trong những cái tên nổi tiếng nhất thế giới bóng đá thời bấy giờ. Với một phong cách thi đấu nhẹ nhàng thanh thoát, cộng thêm đức độ trên sân cỏ, Cruyff luôn là mẫu cầu thủ được các đồng đội cũng như đối thủ vô cùng kính trọng. Các đồng đội yêu mến và tín nhiệm ông với tư cách là một người thủ lĩnh không thể thiếu luôn mang trong mình sự tự tin trước mỗi trận đấu. Chưa bao giờ họ được nghe một lời nói rằng đội bóng phải kiêng dè đối thủ sắp tới từ miệng của ông.
    Sở hữu tài năng kiệt xuất với những pha kiến tạo “chết người”, khả năng tăng tốc rất nhanh, tầm bao quát của một thiên tài. Đặc biệt là khả năng thi đấu ở rất nhiều vị trí. Ông có thể là một tiền đạo lùi, tiền vệ cánh, hay một tiền vệ kiến thiết xuất sắc không kém bất cứ ai. Còn các đối thủ luôn tôn vinh Cruyff như một cầu thủ “chơi đẹp” và hữu nghị nhất.
    Năm 1973, Cruyff tới Barcelona với một hợp đồng kỷ lục thế giới cũng là lúc mùa bóng ở Tây Ban Nha bắt đầu và CLB này đang ngụp lặn ở nửa dưới của bảng xếp hạng giải vô địch quốc gia. Cổ động viên của Barcelona vô cùng đau khổ mỗi khi bị cổ động viên Real Madrid cười nhạo. Với sự có mặt của Cruyff, phép lạ đã diễn ra.
    Ngày 25/10/1973, Cruyff đặt chân tới Tây Ban Nha thì ba ngày sau, ông đã ra sân trong trận gặp Grenade và ghi liền 2 bàn thắng cho Barcelona. Kể từ cái ngày định mệnh ấy, Barcelona bách chiến bách thắng, để rồi đăng quang chức vô địch lần đầu tiên kể từ năm 1960, tạo nên bước ngoặt lịch sử cho CLB. Johan chính thức trở thành “biểu tượng” ở Nou Camp khi giúp Barcelona đánh bại kình địch Real Madrid 5 - 0 ngay tại Bernabeu ngày 2/2/1974. Chiến thắng ấy đã chấm dứt một thập kỷ thống trị của Real Madrid.
    Tầm ảnh hưởng của Cruyff trong 5 năm ông thi đấu ở Barcelona là không thể chối cãi, ông trở thành “vị thánh” xứ Catalonia.
    Khi huấn luyện viên Weisweller tới Barcelona để thay thế Rinus Michels, giữa Weisweller và Cruyff bắt đầu xuất hiện bất đồng. Trong trận đấu của Barcelona ở Sevilla (tháng 2/1976), Weisweller quyết định thay Cruyff ra khỏi sân. Cruyff tuyên bố: “Ông Weisweller nghĩ mình là nhân vật chính hay sao? Chính tôi mới là ngôi sao!”. Cổ động viên của Barcelona cũng nghĩ vậy. Họ xuống đường phản đối và hậu quả thấy ngay sau đó: Weisweller ra đi, còn Cruyff ở lại, tiếp tục là thủ lĩnh ở Barcelona thêm hai năm nữa.
    Mặc dù là một trong những cái tên thuộc vào hàng “kinh điển” của bóng đá thế giới, nhưng sự nghiệp trong màu áo ĐTQG của Johan Cruyff lại không thật sự kéo dài lâu. Lần đầu tiên ông ra mắt trong đội hình “cơn lốc màu Da cam” là vào tháng 9 năm 1966 trong trận đấu với Hungary. Sau khi có được 48 lần ra sân trong màu áo ĐT Hà Lan, ông chia tay sự nghiệp thi đấu quốc tế vào tháng 10 năm 1977, khi đó ông mới 30 tuổi. Những trận đấu cuối cùng của ông cho ĐT là ở vòng loại cúp thế giới năm 1978. Khi đó, ông và các đồng đội đã giúp đội nhà lọt vào vòng chung kết diễn ra ở Argentina.
    Sau khi từ chối cùng đội tuyển Hà Lan sang Argentina dự vòng chung kết World Cup 1978, Cruyff quyết định rời Tây Ban Nha sang thi đấu ở... Mỹ! Tháng 6/1979, Cruyff chính thức xuất hiện tại Giải bóng đá nhà nghề Bắc Mỹ (NASL), trong màu áo của CLB không ai biết tới là Aztecs ở Los Angeles. Trận đầu ra quân gặp Rochester, Cruyff ghi hai bàn trong chiến thắng 3-0 và nhanh chóng trở thành một trong những cầu thủ nổi nhất ở NASL. Được một năm, Cruyff tiếp tục phiêu lưu cùng CLB vô danh khác là Diplomats ở Washington cho tới năm 1981 thì quyết định rời nước Mỹ. Lý do dẫn tới quyết định này của Cruyff cũng khá độc đáo: không thích thi đấu trên... mặt cỏ nhân tạo ở các sân bóng đá Mỹ. Mà với Cruyff thì một khi đã không thích là rời bỏ ngay, không một chút nuối tiếc.
    Trở lại châu Âu, Cruyff chơi bóng một thời gian ngắn cho Levante - CLB “nhỏ xíu” của Tây Ban Nha, rồi sau đó tháng 12/1981 quay lại Ajax, cái nôi đã gọt giũa nên tài năng chói sáng của mình. Có lẽ Cruyff chỉ phù hợp khi chơi ở bóng đá đỉnh cao. Bởi vì ngay năm 1982 - 1983, Ajax có Cruyff đã đoạt liền hai chức vô địch và một cúp quốc gia Hà Lan.
    Năm 1984, do có bất đồng nhỏ với ban lãnh đạo Ajax, Cruyff bỏ sang thi đấu cho Feyenoord, đội bóng “cừu thù” với Ajax trong giải vô địch Hà Lan. Ngay trong năm đó, Feyenoord đoạt chức vô địch Hà Lan và đoạt luôn cả cúp quốc gia Hà Lan.
    Trong năm 1984 đáng nhớ ấy, giữa Cruyff và ban lãnh đạo của đội Feyenoord đã có một hợp đồng kỳ lạ chưa từng có trong lịch sử bóng đá thế giới. Trước đó, do lận đận mãi ở giải vô địch quốc gia, số người mua vé tới xem các trận đấu của Feyenoord sụt giảm thê thảm. Khi ký hợp đồng với Cruyff, hai bên ước tính số người xem trung bình mỗi trận của Feyenoord vào khoảng 22.000 người; nếu như số lượng khán giả vượt qua số đó thì Cruyff được hưởng một nửa số tiền bán vé vượt mức đó. Ban lãnh đạo Feyenoord hoàn toàn không ngờ được “hiệu ứng Cruyff” lại mạnh đến thế. Mỗi trận đấu có Cruyff, khán giả đều ùn ùn đổ đến sân vận động, lấp kín các khán đài. Vậy là Feyenoord cứ phải đau khổ (hay sung sướng?) trả tiền cho Cruyff.
    Cruyff là một trong số rất ít cầu thủ sau khi từ giã sân cỏ trở thành huấn luyện viên ngay sau đó mà không qua trường lớp đào tạo nào. Sau đó, ông làm bình luận viên bóng đá cho Đài truyền hình Hà Lan.
    Có tóc đâu ai muốn trọc đầu
    Trả lời có trích dẫn Trả lời có trích dẫn Like  

  3. #3
    Nhất giai cao thủ zZzÂn Thừa PhongzZz's Avatar
    Ngày tham gia
    27-05-2010
    Đến từ
    Can Tho city
    Bài viết
    625
    UserID
    1304622
    Danh vọng
    1594
    Lúa
    4,912
    Tiềm năng
    0

    Mặc định

    ĐUÔI NGỰA THẦN THÁNH ROBERTO BAGGIO

    Hồ sơ :
    Roberto Baggio sinh ngày 18 tháng 2 năm 1967 tại Caldogno, Veneto, Italia
    CLB : Vicenza (1982-1985) Fiorentina (1985-1990) Juventus (1990-1995) A.C. Milan (1995-1997) Bologna (1997-1998) Inter Milan (1998-2000) Brescia (2000-2004)
    Đội tuyển quốc gia Ý ( 1988-2004 ) 89 trận 27 bàn thắng
    Thành tích :
    + VĐ UEFA Cup mùa bóng 92/93
    + VĐ Serie A mùa bóng 94/95
    + VĐ Cúp QG mùa bóng 94/95
    + VĐ Serie A mùa bóng 95/96
    Các thông tin khác:
    - 1993: Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới do FIFA bầu chọn
    - 1993: Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu do tạp chí France Football bầu chọn
    - 1993: Đoạt danh hiệu "Quả bóng vàng châu Âu" do UEFA bầu chọn
    - Baggio được chọn vào danh sách "The FIFA 100" (100 cầu thủ XS do FIFA bầu chọn), nhân dịp kỷ niệm 100 năm FIFA.
    - Baggio xếp thứ 24 trong danh sách 50 cầu thủ xuất nhất châu Âu 50 năm qua do UEFA bầu chọn nhân dịp kỷ niệm 50 năm UEFA.
    - Tham gia 3 kỳ World Cup: 90, 94, 98 với 16 trận - 9 bàn
    Thông tin :
    Những pha ăn mừng bàn thắng và mái tóc đuôi ngựa gợn xoăn dường như đã đi vào huyền thoại... Đến bây giờ, nỗi nhớ ấy vẫn còn, không chỉ với những NHM Juve mà là cả với các Milanista, Interista và với tất cả những ai đã và đang yêu bóng đá Ý. Một tình cảm đặc biệt, cho chỉ Baggio và một Baggio mà thôi!
    Cuộc đời Roberto Baggio giống như một bản nhạc, khi nhẹ nhàng êm ái, lúc lại say đắm dữ dội, để mỗi khi thưởng thức nó, đã có biết bao những trái tim bật khóc và dâng lên những tình cảm thổn thức khôn nguôi. Câu chuyện mang tên anh chỉ giản dị thôi, nhưng diệu kì biết bao...
    Câu chuyện về anh được bắt đầu tại Firenze- thành phố luôn ngập tràn những tình cảm lãng mạn ở nước Ý, trong sắc tím của The Viola lừng danh một thời. Năm 1985, Fiorentina đón chào một ngôi sao mới của Calcio - R. Baggio. Sự xuất hiện của chàng trai trẻ hào hoa ấy tại Florence đã làm đảo lộn mọi thứ: đưa Fiorentina từ một đội bóng hạng xoàng đang có nguy cơ xuống hạng trở thành một trong "7 chị em anh hùng" của Serie A. Một điều thần kì!
    Dường như chỉ có những huyền thoại mới có thể thực hiện được điều đó, như cách Maradona đã từng làm với Napoli và bây giờ là Baggio với Fiorentina. Những bàn thắng đẹp như mơ, những pha đi bóng uyển chuyển và một gương mặt quyến rũ làm mê đắm hết thảy. Baggio tựa một thiên thần chơi bóng như để làm đẹp cho cả thế giới. Người ta tin rằng tương lai anh sẽ là một tên tuổi lớn. Người dân Firenze cũng tin vào điều đó, tin vào Roby của họ. Họ tôn thờ anh như một "Đấng cứu thế" và cho rằng người hùng của đội bóng sẽ không bao giờ rời xa họ.
    Vậy nên khi diễn ra cuộc chuyển nhượng kỉ lục của Calciomercato trị giá 17 triệu USD đưa Baggio về Juventus (1990), lập tức các tifosi Fio đã nổi loạn, đập phá và biểu tình dữ dội ở trụ sở CLB đòi anh ở lại. Nhưng họ đã không làm được, rút cuộc Roby vẫn phải chia tay đội bóng áo tím để thay sắc áo của mình thành hai màu đen trắng huyền bí, cho dù trong lòng anh là một nỗi buồn nặng trĩu.
    Còn các CĐV, họ vẫn không chịu buông tha anh, họ tức giận và không tha thứ cho "Hoàng tử bé" của mình, họ nói anh là kẻ phản bội. Roby chỉ im lặng. Và có một giai thoại đáng nhớ về anh trong trận đấu giữa Juve và Fio vào mùa bóng ngay sau khi anh rời Fio. Baggio đã từ chối đá quả penalty cho Juve trong niềm xúc động của các tifosi Fiorentina. Họ chợt nhận ra rằng họ không hề tiếp tục thù ghét anh, cho dù lòng trung thành với
    CLB không cho phép họ tha thứ khi thần tượng của họ rời đội bóng ra đi.
    Nhưng nó chỉ càng chứng tỏ rằng họ luôn yêu anh thật nhiều. "Baggio, hãy về với chúng tôi". Câu biểu ngữ xa xăm năm nào sẽ luôn còn ám ảnh và in đậm lên từng trang hoài niệm của Fiorentina. Thời gian không thể xoá nhoà những kỉ niệm của anh ở xứ sở Toscana đầy nắng được. Một điều chắc chắn là vậy!
    Có lẽ những năm tháng ở Juve chính là hồi ức ngọt ngào và vinh quang nhất trong suốt chặng đường sự nghiệp nhiều nước mắt hơn nụ cười của anh. 5 năm dưới màu áo Bainconeri, Roby đã toả sáng rực rỡ khiến hình ảnh mái tóc đuôi ngựa của anh dần đi vào tiềm thức những tifosi như một biểu tượng đẹp đẽ của tình yêu và lòng đam mê.
    Thánh Johan Cruyff từng nhận xét về Baggio:
    "Baggio là một pháp sư. Một trong những thi sĩ cuối cùng còn lang thang trên sân cỏ. Anh là sự phản bác hay nhất cho những ai nghĩ rằng nước Ý chỉ sinh ra những hậu vệ vĩ đại. Baggio chính là cầu thủ phóng túng nhất Thế giới". Lời ngợi ca của Thánh Cruyff đã đủ để nói lên vẻ đẹp tài hoa trong đôi chân thi sĩ của Roby.
    Thật vậy, anh là một trong số ít những cầu thủ có khả năng tạo nên sự khác biệt và những điều kì lạ trong một trận đấu. Phong cách của anh, lối chơi mà anh thể hiện, rất khó để tả thành lời. Nó đầy sáng tạo, nhiều đam mê và cũng thật truyền cảm. Theo dõi một trận đấu có Baggio như đang xem một bức tranh động vậy, mềm mại và vẫn đầy ắp lửa nhiệt huyết. Anh như khơi dậy lên trong tâm hồn mọi người một vẻ đẹp thực thụ và vẹn nguyên nhất của bóng đá.
    Những chiến thắng của Juve khi đó luôn được thắp sáng nhờ niềm cảm hứng mang tên Baggio. Với 78 lần lập công trong 141 lần khoác áo Juve, Baggio đã làm nổ tung cầu trường với những bàn thắng đẹp mê hồn. Lịch sử đáng tự hào của lão bà Turin chưa bao giờ thiếu đi những tiền đạo nổi danh. Những Bettega, P.Rossi, Del Piero, Trezeguet... sẽ mãi được tung hô như những người hùng trước khung thành, những sát thủ thực sự của đội bóng. Có lẽ Roby cũng vậy, nhưng không chỉ có thế và sẽ theo một cách đặc biệt hơn. Bởi anh là duy nhất!
    Tháng 3/94, trong cuộc đối đầu giữa Juve với Fio, một cuộc đổi ngôi giữa hai vì sao lớn: Baggio và Del Piero đã diễn ra. Trận đấu ấy, Roby bị chấn thương nên Alex được đá chính. Rồi Alex lập hattrick, như báo hiệu sự ra đời của một ngôi sao mới và cũng là khép lại một quá khứ vinh quang của Roby với Juve. Anh ra đi không lâu sau đó, nhường chỗ cho Del Piero, trong cuộc chuyển nhượng đậm tính liên minh chính trị giữa Juve và Milan. Anh rời Juve để đến Milan, để lại quãng đời tươi đẹp nhất của mình ở lại Delle Alphi.
    Với chiếc cúp C3 giành được cùng Bà đầm già và cú đúp QBV Châu Âu & TG năm 1993, Roby dường như đã có tất cả. Anh không có gì phải luyến tiếc cả. Nhưng với nhiều CĐV của Juventus, sự ra đi của anh đã để lại chút gì đó hụt hẫng và trống trải vô cùng. Họ nhớ những bàn thắng huyền ảo của anh, những giây phút kì diệu mà anh đã tạo nên, nhớ da diết đôi mắt ưu tư phảng phất nét trắc ẩn.
    Với Azzurra, Roby lưu giữ trong tâm hồn mình 2 mảng màu trong cùng một sắc áo Thiên thanh vĩnh cửu: khi được tô đậm sáng chói, lúc lại hoen ố niềm đau. Italia 90 thất bại nhưng Roby kể từ đó đã trở thành biểu tượng tài hoa của nước Ý. 4 năm sau là một World Cup 94 sôi động trên đất Mỹ và một Baggio bùng nổ trên thảm cỏ xanh thế giới.
    Anh là ngôi sao lớn đã dẫn dắt Italia vào tới trận chung kết với Brazil. 20 phút của trận đấu trôi qua không có bàn thắng. Trọng tài tung đồng xu để đá những quả penalty định mệnh. Baggio, dĩ nhiên có tên trong danh sách những cầu thủ đá luân lưu, bước tới trước khung thành, khuôn mặt bình thản, anh tung cú sút... Trái bóng đập trúng xà ngang và bay lên trời. Italia thua cuộc. Họ mất chiếc cúp VĐTG lần thứ 3 trong sự ngỡ ngàng và những giọt nước mắt tiếc nuối của vô vàn người Ý.
    Và rồi con đường đến với Azzurra càng ngày càng hẹp lại với Baggio. Ngoại trừ France 98 được góp mặt do Italy thiếu vắng lực lượng, còn lại từ Euro 96, Euro 2000 đến WC 2002, trong những giải đấu lớn ấy, đều không hề in dấu chân anh. Người ta có cảm tưởng như thần may mắn đã không mỉm cười với Roby nữa.
    Riêng Roby, dù cuộc đời có thế nào thì anh vẫn luôn là anh, luôn là một Baggio can đảm và mạnh mẽ đã đứng lên sau tấn bi kịch WC94, một Baggio luôn nỗ lực đến phi thường với ước mơ được khoác lại chiếc áo Thiên
    thanh... Một Baggio chưa bao giờ oán trách định mệnh, cái định mệnh đau thương đã bao lần cướp đi những nụ cười hạnh phúc trên đôi môi anh. Người ta có thể tức giận với anh, có thể không tha thứ cho những-lỗi lầm-không-phải-là-của-anh, có thể phụ bạc anh nhưng không một ai và chẳng điều gì có thể đánh mất niềm tin nơi anh cả.
    Và vào ngày 28/4/04, Roby đã hoàn thành được ước nguyện của mình, anh chơi trận cuối cùng cho Azzurra, lần cuối cùng khoác lên mình chiếc áo số 10, là lần sau cuối những NHM được ngắm nhìn anh trong sắc áo Thiên thanh quen thuộc.
    Ngày 16/5/04 tại thánh địa San Siro, Milano. Roby đeo băng đội trưởng Brescia chơi trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp của mình, trận đấu gặp lại AC Milan - đội bóng mà anh đã từng 2 năm gắn bó với 2 scudetto đáng nhớ. Thiên thần tóc đuôi ngựa chia tay bóng đá, chia tay chúng ta, chia tay thảm cỏ xanh nước Y từ giây phút ấy.
    Khi Roby giơ cách tay vẫy chào mọi người, khi nụ cười ấm áp lại nở trên đôi môi anh, khi ngắm nhìn những bước chạy cuối cùng đi vào đường hầm, đã có những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống nơi khoé mắt những tifosi yêu mến anh, đã có những tiếng nấc nghẹn ngào dâng lên vì tiếc nuối.
    Người ta sẽ luôn nhớ về anh, con người luôn chơi bóng một cách cống hiến và say mê nhất, ở bất cứ nơi đâu anh đặt chân tới. Cho dù đó là những đội bóng lớn Juve, Milan, Inter hay chỉ là những CLB tỉnh lẻ như Bologna, Brescia. Yêu hết mình và luôn cho đi những gì từ sâu thẳm con tim, với Roby, đó là lẽ sống!
    Có tóc đâu ai muốn trọc đầu
    Trả lời có trích dẫn Trả lời có trích dẫn Like  

  4. #4
    Nhất giai cao thủ zZzÂn Thừa PhongzZz's Avatar
    Ngày tham gia
    27-05-2010
    Đến từ
    Can Tho city
    Bài viết
    625
    UserID
    1304622
    Danh vọng
    1594
    Lúa
    4,912
    Tiềm năng
    0

    Mặc định

    HOÀNG TỦ MICHEL PLATINI


    Hồ sơ :
    Michel Francois Platini sinh ngày 21 tháng 6, 1955 tại Jœuf, Pháp
    CLB : AS Nancy (1972–1979) Saint-Étienne (1979–1982) Juventus (1982–1987 )
    Đội tuyển quốc gia Phap (1976–1987) 72 trận 41 bàn thắng
    Thành tích:
    - Với tuyển Pháp:
    Vô địch EURO 1984
    Hạng 3 World Cup 1986
    Hạng 4 World Cup 1982
    - Với Nancy
    175 trận, 98 bàn
    Cúp QG Pháp(1978)
    - Với AS.Etienne(1979-1982)
    107 trận, 58 bàn
    VĐQG 1981.
    - Với Juventus( 1982-1987)
    147 trận, 68 bàn
    Cúp QG 1983
    Scudetto 1984, 1986
    Cúp C2 1984
    Siêu cúp châu âu 1984
    Cúp C1 1985
    Cúp liên lục địa 1985
    Danh hiệu cá nhân:
    - 2 lần Cầu thủ xuất sắc nhất nước Pháp 1976, 1977.
    - Cầu thủ xuất sắc nhất SerieA 1984
    - 3 lần Vua phá lướI Serie A (82/83: 16 bàn, 83/84: 20 bàn, 84/85: 18 bàn)
    - 1 lần Vua phá lướI cúp C1 (1984/1985: 7 bàn)
    - Vua phá lướI EURO 1984( 9 bàn)
    - 3 lần Quả Bóng Vàng châu Âu France Football (1983,1984,1985)
    - 3 lân Cầu thủ xuất sắc nhất thế giớI-Onze vàng (1983,1984,1985)
    - 2 lần Cầu thủ xuất sắc nhất thế giớI _World Soccer(1984,1985)
    - Cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử bóng đá Pháp.(1997)
    - Cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử Juventus.(1997)
    Thông tin :
    Những năm đầu thập niên 80, bóng đá thế giớI có 3 chàng hoàng tử, mỗI chàng có 1 phong cách khác biệt nhau. Arthur Atunes “Zico” như 1 lãng tử phiêu du, Diego Maradona tinh quái và đầy “ma thuật”, còn Michel Platini thì nổI bật vớI phong thái điềm đạm và đường bệ. Ngoài Zico có phần hơi kém sút, giớI hâm mộ khi ấy vẫn thường so sánh giữa Maradona và Platini. Cả 2 đều sút phạt giỏi,có nhãn quan chiến thuật sắc bén, đọc trận đấu tuyệt hay và kiến thiết bóng cực chuẩn xác. Nếu như Maradona vượt trộI về kỹ thuật thì Platini lạI xuất sắc hơn về kỹ năng ghi bàn, hiếm có 1 tiền vệ nào lạI đăng quang ngôi vua phá lướI nhiều như ông.
    Platini xuất thân trong một gia đình người Ý di cư sang Pháp. Ông nội của Platini đã rời Piemonte vào cuối thế chiến thứ nhất để đến Lothringen và làm nghề thợ gạch. Cha Michel Platini, ông Aldo Platini là một cựu cầu thủ và là một huấn luyện viên bóng đá. Chính ông Aldo là người đã có công khơi dậy những tiềm năng bóng đá của cậu con trai.
    Có một điều ít ai biết rằng nguyên nhân khiến Platini có khả năng đi bóng uyển chuyển và mềm dẻo như một vũ công samba là do ông trưởng thành từ bóng đá đường phố. Chính nhờ những năm tháng rong ruổi ngoài đường, Platini mới có được sự thanh tao của một nghệ sĩ bóng đá, không như những người bạn đồng trang lứa bị khô cứng trong các học viện bóng đá từ quá sớm. Mãi đến năm 11 tuổi, tức là sau 6 năm chơi bóng ngoài đường, Platini mới gia nhập CLB bóng đá địa phương AS Joeuf.
    Thật ra, Michel Platini không phát triển tài năng ở tuổi quá sớm. Như ông tâm sự mới đây: "Ở tuổi 17 tôi không được gọi vào đội tuyển quốc gia bởi vì tôi chưa hoàn thiện được hết các kỹ năng cần thiết". Đó là khi ông 17 tuổi. Mọi chuyện còn tệ hơn khi Michel Platini 14 tuổi.
    Năm 1969, khi đó mới 14 tuổi, Michel Platini đã có màn trình diễn tồi tệ tại một giải đấu dành cho cầu thủ trẻ. Không nản chí, Platini miệt mài tập luyển và đã phát triển rõ rệt sau 2 năm. Khi 16 tuổi, Platini đã chơi khá tốt trong màu áo đội trẻ của Jeouf trận gặp đội trẻ của Metz. Điều này gây ấn tượng với HLV của Metz.
    Metz muốn ký hợp đồng với cầu thủ trẻ tài năng này nhưng một chấn thương đã ngăn Platini đến với Metz. Sau khi hết chấn thương, HLV của Metz đã chuyển đi nơi khác và vị HLV mới chưa muốn có một Platini còn non kinh nghiệm và kỹ thuật. Platini vẫn phải an phận tại Jeouf.
    Rất khao khát được chơi cho Metz, CLB hâm mộ từ nhỏ của mình nhưng trong suốt sự nghiệp, Platini chưa bao giờ có được diễm phúc này. Duyên số không cho phép Platini được khoác áo đội bóng mơ ước. Platini không thể vượt qua được kỳ kiểm tra sức khỏe cuối cùng khi mọi thủ tục chuyển nhượng về Metz đã xong xuôi. Lần này bác sĩ của Metz chê dung tích phổi của Platini nhỏ, gặp trục trặc về đường thở và tim yếu.
    Tháng 9 năm 1972, khi 17 tuổi, Platini gia nhập đội hình dự bị của Nancy và ngay lập tức chứng tỏ được giá trị của bản thân. Với thành tích ấn tượng, Platini ngay lập tức được đôn lên đội hình một. Tuy nhiên hoa hồng vẫn chưa đến với Michel Platini. Trong trận đấu đầu tiên ở đội hình một, Platini được vào sân từ băng ghế dự bị trong trận gặp Valenciennes và bị nhận rất nhiều vật thể lạ ném từ khán đài. Mọi chuyện chưa dừng ở đó, vài ngày sau, trong trận đấu ở đội hình hai, Platini bị một cú vào bóng ác ý dẫn đến chấn thương mắt cá khá nặng.
    Và cuộc sống của ông gắn với giường bệnh. Mãi đến ngày 3-5-1973, Platini mới được ra sân trở lại trong trận gặp Nimes, lần này ông được ra sân ngay từ đầu. Thi đấu chưa đầy tròn năm, chấn thương chân vẫn còn nóng mới thì Platini nhận tiếp một chấn thương gãy tay khiến ông phải nghỉ thi đấu cho đến hết mùa bóng.
    Có thể nói đây là bước ngoặt trong cuộc đời bóng đá của Platini. Trở lại sau chấn thương, Platini trở thành cầu thủ quan trọng nhất của Nancy trong mùa bóng 1973-1974, ghi được 17 bàn thắng mà rất nhiều trong số đó là từ pha đá phạt trực tiếp, giúp Nancy vô địch giải hạng nhì, thăng hạng nhất.
    Vừa đưa Nancy trở lại giải hạng nhất, Platini nhận giấy báo quân dịch vì vậy số trận ông góp sức cho Nancy giảm hẳn. Dù không thi đấu tốt ở giải vô địch quốc gia nhưng Nancy đã gây tiếng vang ở Cúp QG Pháp. Tại Joinville, trại quân sự của các vận động viên Pháp,Michel Platini gặp gỡ 2 đồng đội tại Nancy là Olivier Rouyer và Jean-Michel Moutier cùng với Maxime Bossis, người sau này là đồng đội của Platini trong tuyển Pháp.
    Với sự góp mặt xuất sắc của Platini, Nancy đã gây bất ngờ ở giải đấu này khi loại St.Etienne bằng 2 bàn thắng của ông nhưng rồi sau đó thất bại thảm hại 1-4 trước Marseille ở bán kết (bàn thắng duy nhất của Nancy do Platini ghi được từ một pha đánh đầu).
    Năm 1976, Platini tham dự Olympic Montreal nhưng không đạt được thành tích gì đáng kể. Và cũng trong năm này, Platini đã ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên trong sự nghiệp với Nancy, kéo dài hai năm. Cuối cùng thì chức vô địch cũng đến với Michel Platini. Trong năm cuối cùng khoác áo Nancy, ông đã đưa CLB đến chiếc Cúp QG Pháp bằng bàn thắng duy nhất trong trận chung kết gặp Nice.
    Sau khi hết hợp đồng với Nancy, Inter Milan, St.Etienne và Paris Saint German đều lao vào cuộc đua giành chữ ký của Platini. Ngay cả Nancy cũng không muốn Platini ra đi. Cuối cùng Platini ký hợp đồng kéo dài 3 năm với St.Etienne, CLB tha thiết muốn có Platini nhất.
    Platini được St.Etienne rước về với kỳ vọng sẽ lập lại được thành tích của đội bóng trong mùa 1976 khi lọt vào chung kết cúp C1 châu Âu. Tuy nhiên có thể nói Platini đã làm thất vọng St.Etienne khi chỉ giúp CLB một lần vô địch quốc gia Pháp cùng với hai lần lọt vào chung kết Cúp QG Pháp trong hai năm liên tiếp 1981 và 1982. Trận chung kết năm 1981, St.Etienne thua Bastia còn năm 1982 St.Etienne thua Paris Saint German. Và đó là lần cuối cùng ông thi đấu cho một CLB Pháp.
    Có thể nói sự nghiệp của Platini phát triển rực rỡ nhất là dưới màu áo Juventus. Tuy nhiên ít ai biết được rằng khi mới đến Bà Đầm Già, các cầu thủ nước ngoài mà trong đó có Platini đã chịu sự tỵ nạnh và chén ép của những ngôi sao trong nước. Năm 1982 Ý vô địch World Cup và dĩ nhiên trong đội hình của Juventus, hầu hết là những nhà vô địch thế giới. Lạ nước lạ cái, chưa thích nghi với lối chơi cũng như cuộc sống mới, Platini đã thi đấu khá tệ trong mùa bóng đầu tiên và trở thành mục tiêu chỉ trích của báo chí Ý. Dưới quá nhiều sức ép, thậm chí Platini đã định rời khỏi Juventus vào mùa đông năm ấy, tức là chưa đầy 6 tháng chơi cho Bà Đầm Già.
    Nhưng Platini đã ở lại, hợp cùng tiền đạo người Ba Lan Boniek, tạo thành thế lực ngôi sao nước ngoài và tạo một cuộc cách mạng buộc Juventus phải thay đổi lối chơi. Kết quả là Juventus giành chiếc Cúp QG và lọt vào chung kết cúp C1. Sau này ai cũng biết đó chỉ là phần mở bài của một bài luận văn đầy ắp những danh hiệu mà Platini viết nên mà đáng kể nhất là 3 Quả bóng vàng châu Âu liên tiếp.
    Đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của Platini có lẽ không phải là chức vô địch Euro 1984 mà là trận chung kết cúp C1 châu Âu tại Brussel Bỉ. Trong cuộc ẩu đả giữa cổ động viên Juventus và Liverpool trước trận đấu trên sân Heysel, nơi không đáp ứng tốt các điều kiện an toàn, một bức tường đã sập xuống làm 39 cổ động viên chết, sáu trăm người bị thương. Trận đấu không bị hoãn lại mà chỉ thi đấu muộn với bàn thắng duy nhất ghi được từ cú sút phạt đền thành bàn của Platini. Người tạo ra quả phạt đền không ai khác là Boniek.
    Rất vui mừng khi đoạt được Cúp C1 đầu tiên trong lịch sử nhưng các cầu thủ Juventus đã bị chỉ trích rằng đã ăn mừng trên xương máu của các cổ động viên. Nói về cảm giác thi đấu tại thảm họa Heysel, Platini cho biết: "Năm 1985, tại sân Heysel Stadium ở Brussel, họ đã cho trận đấu tiếp tục và tôi nghĩ tốt hơn là làm như vậy. Đối với những người xem trận đấu qua truyền hình, họ không hiểu được tại sao chúng tôi còn tâm trạng để thi đấu. Tại sao ư? Bởi vì chúng tôi không biết đã xảy ra một thảm họa trên sân vận động. Chúng tôi được đưa vào phòng thay đồ khi nhận lệnh trận đấu sẽ tạm hoãn. Chúng tôi chỉ biết được sự thật khi hôm sau, về nhà và giở báo ra đọc".
    Ngày 16-11-1977, trên sân Công viên các hoàng tử, ở trận đấu gặp Bulgaria trong khuôn khổ vòng loại World Cup 1978, Pháp thắng 3-1. Dù không thật sự tỏa sáng nhưng Platini đã khiến người hâm mộ tin rằng nước Pháp đã tìm ra một thủ lĩnh trên sân cỏ. Đối với tuyển Pháp đây là lần đầu tiên sau 12 năm họ được tham dự World Cup. Còn đối Platini và đồng đội thì đây là lần đầu tiên trong sự nghiệp.
    Có ai nghĩ rằng sẽ đánh bại được thủ môn huyền thoại Dino Zoff hai lần trong một trận đấu mà quan trọng hơn là từ cùng một vị trí. Ngày 8-2-1978, tại Naple trong trận giao hữu Pháp - Ý, Platini đã làm được điều đó. Cả hai cú sút phạt trực tiếp của ông, một được công nhân và một thì không đã chui gọn vào lưới của thủ môn Zoff. Sau trận đấu này, tên tuổi Platini bắt đầu được chú ý tại khắp châu Âu mà đặc biệt là Ý. Có rất nhiều CLB như Paris Saint-Germain, Saint Etienne, Juventus, Inter Milan, Napoli, Barcelona, Valencia và Arsenal muốn sở hữu Platini.
    Tài năng của Platini thật sự chín muồi tại World Cup 1982. Một bàn thắng từ pha đá phạt trực tiếp của Platini trong trận đấu vòng loại quan trọng với Hà Lan, đã giúp Pháp “mua” được chiếc vé tới Tây Ban Nha.
    Đội Pháp đến World Cup 1982 với tư thế của một ứng cử viên vô địch nhưng họ đã bị chặn lại tức tưởi ở vòng bán kết bởi Tây Đức. Trong trận đấu đó đã có một bức ảnh Platini chỉ tay lên trời rất nổi tiếng. Đó không phải là hành động ăn mừng bàn thắng mà là một cử chỉ cầu xin khẩn thiết, một hành động đòi công lý đối với trọng tài Charles-Coerver sau khi ra một quyết định không chính xác mà sau này vẫn còn lưu lại trong kho tàng truyền miệng lịch sử World Cup.
    Đôi mắt nâu của Platini như sống lại khi ông kể về những chi tiết trong trận bán kết World Cup kinh điển diễn ra tại Sevilla năm 1982. "Đó là trận đấu đẹp nhất trong lịch sử. Tất cả những gì diễn ra trong 2 giờ thi đấu chứa đựng tất cả cung bậc tình cảm của một con người. Đáng lẽ trọng tài phải rút thẻ đỏ cho Schumacher khi thủ môn này va chạm với Patrick Battiston và chúng tôi đã có thể lọt vào trận chung kết, và thậm chí giành chức vô địch. Nhưng ông ta đã không thấy lỗi đó và dĩ nhiên thẻ đỏ không được rút ra. Lúc đó tôi có thể làm được gì?". Dù Pháp thua nhưng Platini được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.
    Chiến tích huy hoàng nhất của Platini là chiếc cúp vô địch Euro cùng tuyển quốc gia Pháp vào năm 1984. Ghi bàn trong tất cả các trận đấu (tổng cộng 9 bàn), ghi bàn từ mọi tư thế: đánh đầu, sút xa, sút gần và phạt trực tiếp..., giúp Pháp toàn thắng cả 6 trận tại giải, Platini đã làm được một điều mà chưa một huyền thoại nào, dù đó là Pele, Maradona, Cryff hay Beckenbauer làm được. Thật không ngoa khi nói rằng Euro 1984 là đỉnh cao trong sự nghiệp quốc tế của Michel Platini. Ở tuổi 29, độ tuổi chín muồi nhất trong đời cầu thủ, Platini đã buộc châu Âu phải quỳ phục và trao vương miện cho nước Pháp.
    Ngoài ra còn phải kể đến 2 cú hattrick liên tiếp mà có lẽ trong lịch sử bóng đá chỉ có mỗi Platini thực hiện được. Hai hattrick trong hai trận liên tiếp (gặp Bỉ và Nam Tư) tại một giải đấu quốc tế là một điều rất khó đằng này đây lại là hattrick-bộ với một bàn bằng đầu, một bàn bằng chân phải và bàn còn lại bằng chân trái. Nhưng có lẽ đọng lại nhất trong tâm trí mọi người về Platini tại Euro 1984 là bàn thắng vào lưới Tây Ban Nha trong trận chung kết. Không ai có thể quên được hình ảnh thủ môn Luis Arconada quá bất ngờ trước cú sút của Platini đã để bóng chui qua người đi vào lưới.
    Tham dự World Cup 1986 tổ chức tại Mexico, dù không đạt được phong độ vì bị đau háng và phải tiêm thuốc trước khi thi đấu nhưng Platini vẫn là linh hồn của đội Pháp. Tuy vậy những gì Platini thể hiện là không thể chê trách. Tuyển Pháp của Platini vẫn thắng như chẻ tre và biến Ý thành cựu vô địch ngay ở vòng hai, với một bàn thắng của ông.
    Dù đất Mexico không phải là miền đất lành đối với Platini và các đồng đội – xét theo một góc độ nào đó - nhưng có lẽ Platini phải cám ơn quốc gia Trung Mỹ này vì nó là nơi đã tổ chức cho ông một ngày sinh nhật nhiều cảm xúc bóng đá nhất.
    Ông đã ghi bàn thắng cuối cùng trong sự nghiệp quốc tế, sút hỏng một quả luân lưu trong trận tứ kết Pháp – Brazil và cuối cùng Pháp lọt vào bán kết. Tất cả diễn ra trong sinh nhật lần thứ 32 của Michel Platini. Nến sinh nhật, bánh sinh nhật rồi cũng tàn, quà sinh nhật cũng đã mở, sinh nhật hạnh phúc rồi cũng qua. Thêm một tuổi, Platini nhận thêm một niềm đắng tại World Cup. Loại Brazil ở tứ kết để rồi gặp lại Tây Đức ở bán kết. Nợ cũ chưa trả lại vay thêm nợ mới, một lần nữa Pháp lại thua. Một lần nữa Platini không vượt qua được Tây Đức. Lại là Tây Đức! Kẻ ngăn mọi ước mơ của người Pháp và của Michel Platini
    Phong độ của Platini sa sút rõ rệt sau 1 World Cup đắng cay, trong mùa bóng 86-87, vua phá lướI Serie A ngày nào chỉ ghi được vỏn vẹn 2 bàn thắng. Không muốn cho ngườI hâm mộ phảI chứng kiến 1 “Michel tàn tạ”, Platini quýêt định treo giày ở tuổI 32. “ Tôi không còn năng lực nữa” ông tuyên bố sau trận đấu cuốI cùng trước Brescia” Tôi đã thi đấu chuyên nghiệp 15 năm qua, đã trảI qua những chấn thương. Tôi yêu những bàn thắng, nhưng tuổI tác giờ đây không còn cho phép tôi thi đấu như những chàng trai trẻ nữa rồI”. Ngày 29-4-1987, Platini thi đấu trận cuốI cùng trong màu áo tuyển quốc gia, gặp Iceland.
    1 năm sau khi từ giã bóng đá, Platini trở thành HLV của tuyển Pháp. TạI vòng loạI EURO 92, Platini dẫn dắt độI tuyển toàn thắng tất cả các trận( Lần đầu tiên và duy nhất đến nay 1 độI bóng toàn thắng trong vòng loạI EURO). Tuy nhiên, khi vào đến vòng chung kết ở Thụy Điển, Pháp lạI thi đấu tệ hạI và bị loạI ngay vòng đầu. Platini từ chức sau đó.
    Từ năm 1992 đến 1998, Platini là đồng chủ tịch ủy ban tổ chức World Cup 1998. Năm 1995, ông được bầu làm thành viên ban chỉ đạo Liên đoàn bóng đá Pháp, từ năm 1998 là Giám Đốc Thể Thao, cố vấn đặc biệt cho chủ tịch FIFA. Và hiện nay là chủ tịch Liên đoàn bóng đá châu Âu UEFA
    Để kết lại bài có thể lấy câu phát biểu của ông Michel Platini khi nhậm chức chủ tịch UEFA. "Bóng đá là một trò chơi trước khi là một món hàng. Là một môn thể thao trước khi là một thị trường, một màn trình diễn trước khi là công việc. Bóng đá là một kho báu, một trò chơi đơn giản và phổ biến mà tất cả mọi trẻ em trên thế giới đều muốn chơi. Tôi đã chuẩn bị để bảo vệ và bảo tồn kho báu này".
    Có tóc đâu ai muốn trọc đầu
    Trả lời có trích dẫn Trả lời có trích dẫn Like  

  5. #5
    Nhất giai cao thủ zZzÂn Thừa PhongzZz's Avatar
    Ngày tham gia
    27-05-2010
    Đến từ
    Can Tho city
    Bài viết
    625
    UserID
    1304622
    Danh vọng
    1594
    Lúa
    4,912
    Tiềm năng
    0

    Mặc định

    [VUA BÓNG ĐÁ PELE


    Hồ sơ:
    Pele, tên thật Edson Arantes do Nascimento
    Sinh ngày 23/10/1940 tại Tres Coracoes, Brazil
    Cao 1,74 m
    Các CLB: Santos (1956-1974), New York Cosmos (1975-1977)
    Với ĐT Brazil (1956-1971): chơi 92 trận, ghi 77 bàn
    Thành tích:
    - Tập thể:
    10 chức vô địch bang Sao Paolo (Campeonato Paulista các năm 1958, 1960, 1961, 1962, 1964, 1965, 1967, 1968, 1969 và 1973); 3 Cúp vô địch giải liên bang Rio-Sao Paolo (Torneio Rio-Sao Paulo các năm 1959, 1963 và 1964); 1 Cúp vô địch Torneio Roberto Gomes Pedrosa (còn gọi là Taca de Prata, năm 1968); 5 chức vô địch Brazil (1961, 1962, 1963, 1964 và 1965); 2 Cúp Libertadores (1962 và 1963); 2 Cúp Liên lục địa (1962 và 1963); 1 Siêu Cúp Nam Mỹ (1968); 1 chức vô địch Bắc Mỹ (NASL Champions, năm 1977); 3 Cúp Vô địch thế giới (1958, 1962, 1970); 2 Cúp Roca (1957, 1963); 1 Cúp O'Higgins (1959); 1 Cúp Atlantica (1960).
    - Cá nhân:
    Cầu thủ xuất sắc nhất Nam Mỹ năm 1973; VĐV xuất sắc nhất thế kỷ 20 của Uỷ ban Olympic Quốc tế; Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỷ 20 của FIFA (chung với Diego Maradona); Giải thưởng thành tựu trọn đời (Laureus World Sports Awards) của Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela năm 2000; Giải thưởng thanh tựu trọn đời dành cho Nhân vật thể thao của hãng truyền thông BBC tặng năm 2005.
    - Những vinh dự khác:
    Đại sứ sinh thái và môi trường Liên Hợp Quốc năm 1992; Đại sứ Thiện chí của UNESCO năm 1995; Tước hiệu Hiệp sĩ Anh quốc (KBE - tước hiệu cao quý thứ hai trong 5 hạng hiệp sĩ của Anh) năm 1997.
    Thông tin :
    Edson Arantes do Nascimento nổi tiếng hơn cả với biệt danh Pele. Đã từ lâu, ông được đa số người hâm mộ bóng đá toàn cầu coi là cầu thủ vĩ đại nhất thế giới với danh hiệu không chính thức "Vua bóng đá". Pele dường như được sinh ra là để chơi bóng. Ông chính là thiên sứ của bóng đá thế giới.
    Sự nghiệp của cựu danh thủ Brazil này tràn ngập những vinh quang, những bàn thắng và điều quan trọng hơn cả là mỗi trận đấu của ông là một bữa tiệc bóng đá dành cho khán giả.
    Ở Brazil, Pele là một người hùng dân tộc. Ông được tôn vinh vì những thành tích và cống hiến cho môn thể thao này. Ông được chính phủ Brazil coi là tài sản quốc gia vì đã làm rạng danh đất nước. Pele cũng nổi tiếng với vai trò một nhà hoạt động xã hội khi lên tiếng bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ đối với các chính sách cần phải thực hiện để cải thiện điều kiện an sinh xã hội cho người nghèo. Khi ghi bàn thứ 1.000 trong sự nghiệp, ông đã nói rằng đó là món quà tặng cho trẻ em nghèo Brazil.
    Được phát hiện bởi ngôi sao bóng đá Waldemar de Brito, Pele bắt đầu chơi cho CLB bóng đá Santos khi 15 tuổi, được vào ĐTQG năm 16 tuổi và giành được Cúp VĐTG đầu tiên của mình ở tuổi 17. Bất chấp vô số đề nghị của các CLB châu Âu, ông đã ở lại với CLB của mình và chơi ở đó gần hai thập kỷ cho tới khi gần treo giầy mới sang Mỹ để thi đấu hai năm cuối với sứ mạng khai hóa bóng đá Bắc Mỹ.
    Pele chơi ở các vị trí tiền đạo lùi, trung phong và cuối sự nghiệp là tiền vệ kiến thiết bóng. Kỹ thuật siêu hạng và thể lực thiên phú của Pele đã được cả thế giới ca ngợi. Ông nổi tiếng với kỹ năng rê dắt bóng không thể ngăn chặn nổi, những đường chuyền khôn ngoan, tốc độ, khả năng sút bóng uy lực và đánh đầu giỏi hiếm có với một tiền đạo Nam Mỹ lại có chiều cao khiêm tốn. Nhưng ấn tượng chung mà ông để lại chính là khả năng săn bàn xuất sắc.
    Ông là cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất lịch sử ĐTQG Brazil và là cầu thủ duy nhất có mặt trong thành phần 3 đội bóng giành World Cup (riêng World Cup 1962, Pele cũng có tên trong danh sách đội hình Brazil nhưng không thi đấu vì chấn thương và không được nhận huy chương).
    Từ khi giã từ sự nghiệp thi đấu vào năm 1977, Pele trở thành đại sứ của bóng đá thế giới khi tham dự vào rất nhiều sự kiện bóng đá và không ngại đưa ra quan điểm về các vấn đề nổi cộm. Ngoài bóng đá, ông cũng tham gia vào các dự án kinh doanh và cũng đã có một thời gian đảm nhận cương vị Bộ trưởng Thể thao Brazil.
    Pele chơi trận đầu tiên cho Santos và cũng là trận bắt đầu sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp năm 1956. Đó là trận giao hữu thắng Corinthians 7-1 và Pele đã ghi một bàn.
    Sang mùa bóng 1957, Pele đã có vị trí thi đấu chính thức trong đội 1 ở tuổi 16 và nhanh chóng trở thành cầu thủ ghi bàn hàng đầu ở giải vô địch Brazil. Chỉ 10 tháng sau khi ký hợp đồng chơi bóng chuyên nghiệp, cầu thủ trẻ này đã được gọi vào ĐTQG.
    Thời kỳ đỉnh cao vinh quang trong lịch sử CLB bóng đá Santos gắn liền với những đóng góp to lớn của Pele và các đồng đội như Coutinho và Pepe. Trong những năm hoàng kim đó, Pele đã cùng CLB này giành được 2 Cúp Liên lục địa, 2 Cúp Libertadores, 5 chức VĐ Brazil, 10 chức VĐ bang cùng vô số chiếc cúp khác. Nhưng danh tiếng thơm tho mà họ tạo ra cho CLB mới thực sự là một tài sản vô giá. Họ trình diễn những trận đấu đẹp mắt và Santos khi đó xứng đáng là đại diện tiêu biểu cho thứ bóng đá tấn công duy mỹ đúng phong cách Brazil mà vẫn vô cùng hiệu quả.
    Thứ quan trọng nhất mà Pele đóng góp cho Santos là những bàn thắng. Ông ghi được 1087 bàn thắng cho Santos trong 19 năm chơi cho CLB này. Bàn thắng thứ 1000 lịch sử của Pele cũng được ghi khi đang khoác áo Santos. Tuy nhiên, theo Pele, bàn thắng đẹp nhất của ông là ở SVĐ Rua Javari trong trận đấu thuộc giải VĐ bang Sao Paulo (Campeonato Paulista) gặp đối thủ Clube Atletico Juventus ngày 2/8/1959. Do không có băng ghi hình trận này, Pele đã đề nghị các chuyên gia tin học dựng lại bàn thắng đặc biệt này trên máy tính. Tháng 3/1961, Pele ghi một bàn thắng đẹp khác vào lưới Fluminense ở sân Maracana, bàn thắng đặc biệt đến mức người ta đã gắn một tấm biển có dòng chữ tôn vinh đó là bàn thắng đẹp nhất lịch sử sân Maracana.
    Sau mùa bóng 1972 (mùa bóng thứ 17 với Santos), Pele không còn là cầu thủ của Santos 100% dù vẫn tiếp tục khoác áo CLB này trong những giải đấu chính thức. Hai năm sau, Pele quyết định rút khỏi tình trạng “nửa hưu” để ký hợp đồng với New York Cosmos ở giải VĐ bóng đá Bắc Mỹ (NASL) vào mùa giải 1975. Thông qua bước chuyển đặc biệt này trong sự nghiệp, Pele được tin tưởng là người đủ sức giúp cải thiện nhận thức xã hội và sự quan tâm của công chúng bóng đá ở Mỹ. Tuy không thành công trong vai trò một “nhà truyền giáo”, Pele cũng đã kéo được một loạt các siêu sao bóng đá thế giới theo chân ông tới Mỹ thi đấu như Franz Beckenbauer, Gerd Müller, Johan Cruyff, Johan Neeskens, Eusebio, Carlos Alberto và George Best.
    Pele cùng Cosmos giành chức VĐ NASL năm 1977 trong mùa bóng thứ ba và là mùa bóng cuối cùng của ông ở CLB này.
    Ngày 1/10/1977, Pele kết thúc sự nghiệp huyền thoại của mình trong một trận đấu giao hữu giữa Cosmos và Santos tại New York. Trận đấu này được chơi trước đông đảo khán giả kéo tới chật SVĐ và được truyền hình ở Mỹ cũng như khắp thế giới. Pele chơi hiệp 1 trong màu áo Cosmos và hiệp 2 trong màu áo Santos. Pele ghi bàn cuối cùng của mình từ một quả đá phạt trực tiếp vào lưới Santos. Trận đấu kết thúc với tỷ số 2-1 nghiêng về Cosmos. Sau trận đấu, Pele chạy quanh sân với lá cờ Mỹ trong tay trái và cờ Brazil trong tay phải. Một cuộc chia tay không thể nào quên.
    Pele khoác áo ĐTQG Brazil lần đầu tiên là ở trận thua 1-2 trước Argentina ngày 7/7/1957. Cũng trong trận đấu đó, ông ghi bàn đầu tiên của mình cho ĐTQG, khi còn hơn 3 tháng nữa mới sinh nhật tròn 17 tuổi. Một năm sau, Pele đã được cả thế giới biết đến.
    Thuỵ Điển chính là nơi thiên tài Pele thực sự phát lộ. Ông tới Thuỵ Điển với một chấn thương và phải tới trận thứ ba của Brazil và cũng là trận cuối cùng vòng bảng gặp Liên Xô thì Pele mới chơi trận đầu tiên của mình ở một vòng chung kết World Cup. Brazil thắng 2-0, Pele chuyền bóng cho Vava ghi bàn thứ hai và thế là một ngôi sao mới đã ra đời.
    Pele chơi trận cuối cùng cho ĐTQG gặp Nam Tư ngày 18/7/1971 tại Rio de Janeiro. Trong những trận có Pele, thành tích của ĐTQG Brazil là 67 trận thắng, 14 trận hòa và 11 trận thua.
    Có tóc đâu ai muốn trọc đầu
    Trả lời có trích dẫn Trả lời có trích dẫn Like  

  6. #6
    Nhất giai cao thủ zZzÂn Thừa PhongzZz's Avatar
    Ngày tham gia
    27-05-2010
    Đến từ
    Can Tho city
    Bài viết
    625
    UserID
    1304622
    Danh vọng
    1594
    Lúa
    4,912
    Tiềm năng
    0

    Mặc định

    HOÀNG ĐẾ FRANZ BECKENBAUER


    Hồ sơ :
    Franz Anton Beckenbauer sinh ngày 11 tháng 9 năm 1945 tại Munich, CHLB Đức
    CLB : Bayern München 1964-1977 New York Cosmos (1977-1980) Hamburger SV (1980-1982 ) New York Cosmos (1983 )
    Đội tuyển quốc gia Tây Đức (1965-1977) 103 trận 14 bàn thắng
    HLV : Tây Đức (1984-1990 ) Olympique de Marseille (1990-1991) Bayern München (1993-1994, 1996)
    Thành tích :
    Cầu thủ :
    - 1969, 1972, 1973, 1974, 1982 Vô địch Bundesliga
    - 1966, 1967, 1969, 1971 Vô địch cup Quốc gia Đức
    - 1974, 1975, 1976 Vô địch Cup Châu Âu
    - 1967 Vô địch Winners Cup
    - 1977, 1978, 1980 Vô địch NASL (USA)
    - 424 trận thi đấu ở Bundesliga, 44 bàn thắng
    - 78 trận thi đấu ở các Cup Châu Âu, 6 bàn thắng
    - Giải nhì World Cup 1966
    - Giải ba World Cup 1970
    - Vô địch World Cup 1974
    - Vô địch EURO 1972
    HLV :
    - Giải nhì World Cup 1986
    - Vô địch FIFA World Cup 1990
    - Vô địch Bundesliga 1994
    - Vô địch UEFA Cup 1996
    Thông tin :
    Ông có biệt danh "der Kaiser", trong tiếng Đức có nghĩa là hoàng đế, bởi ông có một phong cách thanh lịch, khả năng lãnh đạo nổi tiếng. Tên đầu của ông, Franz, làm liên tưởng đến các hoàng đế nước Áo. Nhờ khả năng chiếm lĩnh sân cỏ xuất sắc của ông, ông được coi là cầu thủ bóng đá người Đức vĩ đại nhất của mọi thời đại và cũng là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử môn thể thao này. Cầu thủ đa tài này khởi đầu ở vị trí tiền vệ, tuy nhiên ông có khả năng thích nghi với nhiều vị trí trên sân. Ông được công nhận là người đã sáng tạo ra vị trí libero (hay còn gọi là hậu vệ quét) hiện đại và nổi tiếng khi thi đấu trong vị trí này.
    Vào năm 1954 (năm mà Tây Đức lần đầu lên ngôi vô địch Thế giới khi đánh bại đội tuyển Hungari huyền thoại), khi mới lên 9 tuổi, Franz Beckenbauer đã được nhận vào đội thiếu niên của câu lạc bộ bóng đá nhỏ có tên là SC Munich 1906. Tham gia thi đấu trong các giải trẻ của thiếu nhi rồi sau đó là thanh niên, chàng thanh niên Beckenbauer dần được tôi luyện bản lĩnh trận mạc qua từng trận đấu. Ước mơ lớn nhất của Beckenbauer khi ấy là được gia nhập đội bóng TSV Munich 1860. Mang biệt danh Những con sư tử, đây là một trong hai câu lạc bộ bóng đá lớn của vùng Bavarian - câu lạc bộ kia là Bayern Munich.
    Thế nhưng trong một trận đấu giữa đội của Beckenbauer với đội trẻ TSV Munich 1860, một sự cố đã xảy ra. Trong một pha va chạm nảy lửa giữa cầu thủ hai bên, một cầu thủ của TSV Munich 1860 đã giáng cho Beckenbauer một cái bạt tai nảy đom đóm mắt! Thế là năm 1958, khi 14 tuổi, thay vì đội bóng mơ ước TSV Munich 1860, Beckenbauer lại xin vào chơi cho đội bóng thiếu niên của Bayern Munich, một cừu thù cùng thành phố của TSV Munich 1860!
    Đôi khi số phận vẫn thường đưa người ta đi theo những ngã rẽ không ngờ như thế. Đó có lẽ là một quyết định may mắn cho Bayern Munich và cho cả Beckenbauer.
    Bóng đá ở Đức (đây là Tây Đức) sau chiến tranh gặp phải vô vàn khó khăn, mà trở ngại lớn nhất là chưa có một giải nhà nghề thực thụ để các đội bóng thi đấu. Việc theo đuổi cái nghề đá bóng quả thật là một điều mạo hiểm lớn đối với những chàng trai ôm ấp mộng trở thành cầu thủ. Chính vì thế mà gia đình Beckenbauer hoàn toàn không muốn cậu con trai của mình đi theo cái nghiệp "quần đùi áo số". Mặc dù bố của Beckenbauer, một nhân viên bưu điện, và anh trai cũng đã có thời chơi bóng đá, thế nhưng gia đình muốn Beckenbauer có một nghề nghiệp ổn định hơn, đó là lĩnh vực bảo hiểm. Bởi vậy nên chàng trai Beckenbauer trẻ tuổi trở thành một nhân viên giám sát bán hàng của một công ty bảo hiểm Tây Đức.
    Có lẽ nếu cứ tiếp tục công việc của mình thì hẳn là Beckenbauer sau này sẽ trở thành một nhân viên xuất chúng hãng bảo hiểm Alianz của Đức! Cuộc đời của Beckenbauer sẽ trôi đi một cách nhàm chán và vô vị trong vai trò của một công chức nếu như không có những biến chuyển mạnh mẽ trong đời sống bóng đá Tây Đức lúc đó. Tháng 2.1964, lần đầu tiên giải bóng đá nhà nghề hạng nhất - Bundesliga - của Tây Đức khởi tranh. Bayern Munich vẫn còn nhớ tới chàng trai có biệt tài ghi bàn trong đội hình trẻ của câu lạc bộ và quyết định gọi Beckenbauer trở lại. Niềm đam mê bóng đá cùng sân cỏ chợt bùng dậy trong Beckenbauer. Vậy là Beckenbauer quyết định từ giã cái chân công chức của hãng bảo hiểm, thay vào đó là những trận đấu bóng. Beckenbauer chính thức bước vào cuộc đời của một cầu thủ nhà nghề với việc ký hợp đồng đá cho Bayern Munich.
    Khi ấy Hùm xám vẫn còn chơi tại giải vô địch cấp vùng (tương đương với hạng hai) ở Tây Đức, nhưng ngay khi Beckenbauer xuất hiện lần đầu tiên trong vai trò tiền vệ cánh trái thì CLB đã chuyển mình và trở thành một trong những câu lạc bộ mạnh ở Bundesliga lúc bấy giờ. Ngay sau đó ông được chuyển vào đá tiền vệ giữa và được gọi vào đội tuyển Tây Đức. Trận đấu đầu tiên của ông trong màu áo đội tuyển quốc gia, Tây Đức phải gặp đội tuyển Thụy Điển trên sân khách trong trận đấu quyết định giành quyền vào vòng chung kết World Cup 1966. Đó là một trận đấu đầy áp lực cho ngay cả các cầu thủ đầy kinh nghiệm. Thế nhưng Beckenbauer cầu thủ mới 20 tuổi, ít kinh nghiệm thi đấu quốc tế đã thể hiện một bản lĩnh tuyệt vời và đã giúp đội tuyển Tây Đức dành chiến thắng 2-1 và lọt vào vòng chung kết World Cup 1966. Trận đấu này đã khiến khán giả phải biết đến tên ông và cho thấy phần nào phẩm chất của một nhà lãnh đạo trong ông.
    Trận đấu đầu tiên tại WC 1966, đội tuyển Đức gặp đội tuyển Thụy Sĩ, Beckenbauer đã nhanh chóng chứng tỏ được tài năng của mình khi đóng góp 2 bàn thắng vào chiến thắng 5-0 của đội tuyển Tây Đức. Sau đó Tây Đức hòa Achentina 0-0 và thắng Tây Ban Nha 2-1 để lọt vào vòng tứ kết. Ở trận tứ kết gặp Uruguay, đội tuyển Tây Đức chỉ với 9 cầu thủ đã đè bẹp Uruguay 4-0 trong đó có một bàn thắng của Beckenbauer. Sau đó tại trận bán kết, Beckenbauer lại một lần nữa đưa đội tuyển Tây Đức tiến vào sâu hơn nhờ cú sút từ xa bằng chân trái đánh bại thủ môn huyền thoại của Liên Xô Lev Yashin.
    Ở trận chung kết, Beckenbauer được giao nhiệm vụ đeo bám chặt cầu thủ xuất sắc nhất của đội tuyển Anh lúc bấy giờ là Bobby Charlton khiến cầu thủ này chẳng thể làm được gì. Tuy vậy cú hat-trick xuất sắc của Geoff Hurst đã giúp đội tuyển Anh chiến thắng trong một trận chung kết đầy tranh cãi. Đó cũng là khởi nguồn cho những sự kình địch giữa hai đội tuyển Anh – Đức sau này.
    Trở về Bayern Munich sau World Cup 1966, Beckenbauer đã giúp câu lạc bộ này giành Cup quốc gia Tây Đức 2 năm liên tiếp 1966 và 1967 sau đó là dành chiếc cup Châu Âu đầu tiên là chức vô đich C2 (Cup Winners’ Cup) sau khi thắng Glasgow Ranger tại trận chung kết.
    Lúc này đã là đội trưởng của Bayern, Beckenbauer cùng với thủ môn Seep Maier và tiền đạo Gerd Muller đã thành nỗi khiếp sợ cho bất kỳ đối thủ nào và bộ ba này được gọi với biệt danh là “Der Bomber”. Và Tây Đức bắt đầu cuộc chinh phục Châu Âu và thế giới của mình. Năm 1968, Beckenbauer đã ghi bàn giúp đội tuyển Tây Đức thắng đội tuyển Anh lần đầu tiên. Cuối những năm 60, Beckenbauer với sự chỉ dẫn của huấn luyện viên người Ý Giancinto Facchetti , đã tập đá ở vị trí hậu vệ cánh trái kết hợp với sự di chuyển vào giữa để ngăn chặn sự tấn công chính diện của đối phương. Chính nhờ vào những thử nghiệm này, Beckenbauer đã hình thành trong đầu khái niệm cơ bản về một vị trí mới, vị trí libero.
    World Cup 1970, tuy Tây Đức không dành chức vô địch nhưng họ đã loại được kẻ kình địch kiêm nhà đương kim vô địch, đội tuyển Anh, tại trận tứ kết. Ở trận này, đội tuyển Tây Đức đã bị dẫn trước 2-0, nhưng bàn thắng của Beckenbauer ở phút 68 đã giúp các cầu thủ Tây Đức lấy lại tinh thần và thắng ngược lại 3-2. Thế nhưng Tây Đức lại bị Italia loại ở bán kết sau khi thua 4-3 và sau đó thắng Uruguay 1-0 để dành giải ba.
    Năm 1971, Beckenbauer trở thành đội trưởng của đội tuyển Đức. Một năm sau đó, tại EURO 72, Tây Đức đã dành chức vô địch sau khi đánh bại Liên Xô 3-0 tại trận chung kết và năm đó Beckenbauer được bầu làm “ Cầu thủ xuất sắc nhất Châu Âu”.
    World Cup 1974 được tổ chức tại Tây Đức, đội trưởng Beckenbauer, lúc này đã rất nổi tiếng ở vị trí libero, tràn trề hy vọng đưa đội Tây Đức dành chức vô địch ngay trên sân nhà. Ngay cả thất bại 1-0 ở vòng bảng trước người anh em Đông Đức cũng không thể cản nổi bước họ. Dù vậy, Tây Đức cũng gặp phải một trở ngại đáng gờm đó là “cơn lốc màu da cam” Hà Lan với lối đá tổng lực và đội trưởng xuất sắc Johan Cruyff. Trân chung kết World Cup 1974 là cuộc đối đầu của 2 cầu thủ xuất sắc nhất thế giới lúc đó là Beckenbauer và Cruyff. Thế nhưng bắt đầu trận đấu lại cho thấy người Đức không thể cản nổi Cruyff và anh đã kiếm cho Hà Lan một quả penalty vào phút thứ 2 và Neeskens đã thực hiện thành công qủa penalty này. 23 phút sau, Tây Đức cũng gỡ hòa bằng một quả penalty của Breitner. Đến phút 43, Gerd Muller đã ghi bàn thắng quyết định giúp Tây Đức giành chiếc Cup vô địch World Cup 1974.
    Năm 1976, Beckenbauer lại được bầu làm cầu thủ xuất sắc nhất Châu Âu lần thứ 2 nhờ vào cú hat-trick trong trận chung kết EURO 76 với Tiệp Khắc. Tuy vậy Tây Đức vẫn bị thua sau loạt đá luân lưu. Năm 1977, Beckenbauer từ giã sự nghiệp thi đấu quốc tế sau 103 trận chơi cho đội tuyển Tây Đức. Cũng trong năm đó, ông ký hợp đồng trị giá 2,5 triệu dollar để sang chơi cho Câu lạc bộ New York Cosmos của Mỹ và giành 3 chức vô địch Soccer Bowl ở đó. Năm 1980, ông trở về Đức chơi cho câu lạc bộ Hamburg SV. Đến năm 1983, ông lại quay lại chơi cho New York Cosmos và kết thúc sự nghiệp cầu thủ tại đó vào năm 1984.
    Cũng trong năm 1984, Beckenbauer được chỉ định làm Huấn luyện viên đội Tây Đức. Và cho dù chưa có kinh nghiệm Huấn luyện viên, ông đã đưa đội tuyển Tây Đức lọt vào trận chung kết World Cup 1986 và chỉ chịu để thua 3-2 trước Achentina của thần đồng Maradona.
    World Cup 1990, dưới sự dẫn dắt của Beckenbauer Tây Đức đã trở thành một sức mạnh không gì cản nổi. Thắng tất cả các trận và chỉ hòa duy nhất 1-1 trước đội tuyển Anh ở vòng bảng, Tây Đức tràn đầy tự tin bước vào trận chung kết với đối thủ cũ Achentina. Và bàn thắng Brehme vào phút 85 đã giúp Tây Đức dành chức vô địch và ghi tên của Beckenbauer vào lịch sử World Cup với 2 lần dành Cup trên 2 cương vị khác nhau.
    Cũng năm 1990, Beckenbauer làm Huấn luyện viên cho câu lạc bộ Olympique Marseille, nhưng không thành công nên chỉ một năm sau ông phải từ chức.
    Năm 1994, Beckenbauer trở về làm Huấn luyện viên cho câu lạc bộ Bayern Munich và đưa câu lạc bộ này dành chức vô địch Bundesliga. Sau đó ông được chỉ định là chủ tịch Câu lạc bộ và kết thúc sự nghiệp làm Huấn luyện viên vào năm 1996.
    Eric Cantona đã từng nói về Beckenbauer: "Anh ta là một thủ lĩnh thực sự, có tài chi phối tất cả bằng phong cách đá bóng hoa nhã đầy kỹ thuật. Năm lên 8 tuổi, tôi xem trận chung kết World Cup 1974 giữa CHLB Đức và Hà Lan. Tôi thì mê màu áo cam, thế mà anh ấy làm tôi khóc hết nước mắt. Nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao người ta gọi Beckenbauer là hoàng đế."
    Có tóc đâu ai muốn trọc đầu
    Trả lời có trích dẫn Trả lời có trích dẫn Like  

  7. #7
    Nhập môn Phàm nhân kezodanh10's Avatar
    Ngày tham gia
    01-03-2011
    Bài viết
    1,085
    UserID
    1670633
    Danh vọng
    0
    Lúa
    5,310
    Tiềm năng
    0

    Mặc định

    tiếp còn nhiu lắm mòa ...........................................
     
    Trả lời có trích dẫn Trả lời có trích dẫn Like  

  8. #8
    Nhất giai cao thủ zZzÂn Thừa PhongzZz's Avatar
    Ngày tham gia
    27-05-2010
    Đến từ
    Can Tho city
    Bài viết
    625
    UserID
    1304622
    Danh vọng
    1594
    Lúa
    4,912
    Tiềm năng
    0

    Mặc định

    HIỆP SĨ BOBBY CHARLTON


    Hồ sơ :
    Ngày sinh: 11/10/1937 tại Ashington, Anh
    CLB : Manchester United (1954-1973), Preston North End (1973-1974), Waterford United (1975 )
    Đội tuyển quốc gia Anh (1958-1970) 106 trận, 49 bàn thắng
    Thành tích :
    Giành chức vô địch World cup năm 1966.
    Có 757 lần khoác áo MU và ghi được tổng cộng 249 bàn.
    Vô địch cúp Châu Âu cùng MU năm 1968.
    Vô địch giải hạng nhất năm 1967, 1965, 1957.
    Cầu thủ xuất xắc nhất Châu Âu năm 1966.
    Vô địch cúp FA năm 1963.
    Thông tin:
    Một trong những nạn nhân sống sót trong vụ tai nạn máy bay kinh hoàng của CLB Manchester United ở Munich, Bobby Charlton đã tiếp tục sống và cống hiến cho môn thể thao vua những khoảnh khắc không thể quên. Ông đã cùng ĐT Anh lên ngôi vô địch thế giới, đã từng được hoàng gia Anh phong tặng tước hiệu Hiệp sỹ, nhưng trên hết, ông là một trong những vị đại sứ đích thực của bóng đá thế giới.
    “Sir Bobby”, người Anh gọi ông như vậy, hiện đang là một trong 4 người giữ kỷ lục hơn 100 lần khoác áo ĐT xứ sở sương mù. Ba người còn lại là thủ môn Peter Shilton, Billy Wright và Bobby Moore. Trong khi Shilton, Wright và Moore là những cầu thủ chơi ở vị trí phòng ngự, nơi mà các cầu thủ có thể chơi với một phong độ cao trong một thời gian khá dài, thì Bobby Charlton lại là một tiền đạo lùi. Ở vị trí này, rất ít người có thể đạt được một phong độ ấn tượng và tạo được sự tin tưởng lâu như vậy. Số lượng khoác áo ĐTQG của ông đã nói lên điều đó.
    Charlton là một trong những cầu thủ có một nền thể lực dồi dào với tốc độ kinh hoàng trong khi không có được một chiều cao lý tưởng. Ông chỉ cao 1m73 (khá thấp so với các cầu thủ châu Âu). Tuy nhiên, đó không phải là điểm yếu của Bobby Charlton, khi ông đã có 49 bàn thắng trong 106 lần khoác áo ĐTQG, nhiều hơn tiền đạo Gary Lineker đúng một bàn. Đó vẫn là một kỷ lục của bóng đá Anh cho đến thời điểm này. Từ khi ông từ giã ĐT Anh vào năm 1970, vẫn chưa có một cầu thủ nào có thể phá vỡ được kỷ lục này.
    Joe Armstrong, người phụ trách tuyển trạch của Manchester khi đó đã phát hiện ra tài năng của Bobby Charlton khi quan sát ông thi đấu cho độI bóng East Northumberland Schoolboys. Sau khi bàn bạc với HLV Matt Busby, Armstrong đã đưa tài năng lớn của bóng đá Anh sau này về với sân Old Trafford vào năm 1953. Sau một thời gian thử việc ở CLB thành Manchester, Bobby Charlton chính thức ký hợp đồng thi đấu chuyên nghiệp cho đội bóng này khi ông 17 tuổi. Vào tháng 10 năm 1956, ông kỷ niệm sinh nhật lần thứ 19 của mình bằng việc ghi 2 bàn trong lần đầu tiên được ra sân, khi đó MU đối đầu với Charlton Athletic.
    Mùa giải năm đó, MU đăng quang ngôi vô địch giải bóng đá Anh, và Charlton có màn trình diễn không tồi khi ghi tổng cộng 10 bàn thắng trong 14 lần được ra sân. Không chỉ có thế, đội chủ sân Old Trafford còn lọt vào trận chung kết cúp FA và bán kết cúp C1. Tất cả các cầu thủ đều rất hào hững với những thành quả đạt được, cũng như vô cùng háo hức chờ đến lúc được chinh phục những chiếc cúp tiếp theo. Tuy nhiên, tai hoạ đã xảy ra vớI thế hệ được gọi là “Busby Babes”. Chiếc máy bay chở đội bóng gồm toàn những cầu thủ trụ cột đã gặp tai nạn trên đường băng Munich. Đó là ngày 6 tháng 2 năm 1958. 8 cầu thủ xuất sắc của MU đã mãi mãi không bao giờ còn được tung hoành trên sân cỏ nữa. Bobby Charlton đã may mắn thoát chết trong vụ tai nạn kinh hoàng đó, lúc đó ông 20 tuổi.
    Từ “đống tro tàn” đó, HLV Busby đã xây dựng lại đội bóng mà nền tảng là “người sống sót” Charlton. Và với sự “hồi sinh” đó, vinh quang đã quay trở lại với đội bóng với biệt danh “Quỷ đỏ” vào năm 1963 với vị trí cao nhất ở cúp FA. Tiếp theo đó là những lần đăng quang ở giải bóng đá Anh vào các năm 1965 và 1967. Chưa dừng lại ở đó. Đúng 1 thập kỷ sau khi chia tay vĩnh viễn các đồng đội ở Munich, Charlton, thủ môn Billy Foulkes và “MU mới” đã dâng tặng những người đã khuất chiếc cúp vô địch châu Âu năm 1968, sau khi hạ gục Benfica 4-1 trong trận chung kết diễn ra ở Wembley. Bobby Charlton là người hùng của trận đấu với cú đúp vào lưới đội bóng đến từ Bồ Đào Nha.
    Mặc dù đặt dấu ấn với vị trí tiền đạo cánh trái, nhưng trận đấu đầu tiên của Charlton trong màu áo ĐT Anh, ông lại đá ở vị trí tiền vệ phòng ngự. Và cũng như lần ra mắt ở Manchester, lần ra mắt này của Charlton rất hoàn hảo. Ông ghi một bàn trong chiến thắng huỷ diệt 4-0 trước độI chủ nhà Scotland ở Hampden Park (sân nhà của CLB Celtic). “Tôi vẫn còn nghe thấy âm thanh khi quả bóng chạm vào mành lưới của Scotland khi đó,” Sir Bobby hồi tưởng lại. “Sau đó, tất cả những gì mà tôi cũng như mọi người nghe thấy là sự im lặng rất lâu.”
    Với màn ra mắt quá ấn tượng đó, không ai ngạc nhiên khi Bobby Charlton được triệu tập vào ĐTQG tham dự World Cup năm 1958 ở Thuỵ Điển. Tuy nhiên, ông và các đồng đội đã có một kỳ World Cup đáng quên, khi phải chia tay đất nước vùng Scandinavi ngay sau vòng 1. Họ đã bị thất bại trong trận play-off với ĐT Liên Xô với huyền thoại Lev Yashin trong khung gỗ. Ở giải đấu năm đó, Bobby Charlton đã không được trọng dụng vì HLV Walter Winterbottom cho rằng ông vẫn còn bị ảnh hưởng về vụ tai nạn ở Munich cách đó không lâu.
    Bốn năm sau đó, Bobby Charlton trở thành một trong những cầu thủ quan trọng nhất của “Tam sư” ở Chile. Bàn thắng đầu tiên của Charlton ở đấu trường quốc tế là bàn thắng nâng tỷ số lên 2-0, khi ĐT Anh giành thắng lợi trước Argentina với tỷ số chung cuộc 3-1. Trận thắng đó đưa ĐT Anh vào vòng tứ kết, nhưng họ đã không may khi… đụng Brazil ở vòng đấu này. “Những chú sư tử” kiêu hùng đã không thể thắng được đội bóng của đất nước Samba, đội sau đó lên ngôi vô địch.
    Năm 1966 là một năm mà không một người yêu mến bóng đá Anh nào có thể quên được. ĐT Anh đã giành chức vô địch trên sân nhà với sự toả sáng của tài năng 28 tuổi, Bobby Charlton. Cùng với các đồng đội và người anh trai Jack Charlton (đá hậu vệ), ông đã đem về chiếc cúp Jules Rimet cho quê hương của môn bóng đá sau khi đánh bại ĐT Đức trong trận chung kết. Lúc đó, ĐT Anh đã có một sự khởi đầu không như ý, khi bị Uruguay cầm hoà với tỷ số 0-0 ngay ở trận đầu ra quân. Chiến dịch đoạt cúp của họ cần phải có một “cú hích”, và Charlton chính là người tạo ra điều đó.
    Hai bàn thắng của Bobby Charlton trong trận bán kết với Bồ Đào Nha đã đưa “những chú sư tử Anh” lọt vào trận chung kết ở Wembley năm đó. Có thể nói đó là một trận chung kết rất thú vị trong lịch sử các kỳ World Cup. Hai huyền thoai, một của Anh, một của Đức… bám chặt lấy nhau trong phần lớn thời gian của trận đấu. Siêu tiền đạo của ĐT Anh, Bobby Charlton “đọ sức” với siêu hậu vệ của ĐT Đức, Beckenbauer. Khi Charlton tấn công, Beckenbauer phòng ngự, khi Beckenbauer băng lên, Charlton lùi về… bắt chặt. Tỷ số cuối cùng là 4-2, và Beckenbauer là người chiến bại. Sau này, khi nhận xét về trận thua đó, “Hoàng đế” đã nói: “ĐT Anh giành thắng lợi trước ĐT Đức là vì Bobby Charlton chơi hay hơn tôi một chút.”
    Mặc dù không thành công trong việc bảo vệ chiếc cúp vô địch ở Mexico 4 năm sau đó, hay không thuận lợi trong sự nghiệp huấn luyện viên, nhưng với những gì đã đạt được trong quãng thời gian làm cầu thủ, Bobby Charlton đã trở thành một trong những tượng đài lớn nhất của bóng đá Anh nói riêng và thế giới nói chung. Quả bóng vàng châu Âu năm 1966 là một danh hiệu xứng đáng dành cho một tài năng cũng như nhân cách lớn. Hiện nay ông đang là đại sứ của bóng đá trên khắp toàn cầu, chủ tịch danh dự của CLB Manchester United, nơi gắn liền vớI tên tuổI của ông. Lúc sinh thời, HLV Matt Busby đã từng nói: “Cậu ấy (Charlton) gần như đã đạt đến mức hoàn hảo mà một cầu thủ bóng đá luôn mơ ước.”
    Có tóc đâu ai muốn trọc đầu
    Trả lời có trích dẫn Trả lời có trích dẫn Like  

  9. #9
    Nhất giai cao thủ zZzÂn Thừa PhongzZz's Avatar
    Ngày tham gia
    27-05-2010
    Đến từ
    Can Tho city
    Bài viết
    625
    UserID
    1304622
    Danh vọng
    1594
    Lúa
    4,912
    Tiềm năng
    0

    Mặc định

    THIẾU TÁ SIÊU TỐC FERENC PUSKAS


    Hồ sơ :
    Ferenc Puskás Biró sinh ngày 2 tháng 4 năm 1927 – mất ngày 17 tháng 11 năm 2006) tại thành phố Budapest, thủ đô Hungary.
    CLB : Kispest A.C. (1943–1949) Honvéd (1949–1955) Real Madrid (1958–1966 )
    ĐTQG : Hungary 84 trận (từ 1945 đến 1956) / 83 bàn thắng. Tây Ban Nha 4 trận (1961-1962) / 0 bàn
    Thành tích :
    Giải VĐQG Hungary 354 trận (1943-1956) / 357 bàn, Real Madrid 179 trận (1958-1966) / 154 bàn
    6 chức vô địch Hungary
    5 chức vô địch Tây Ban Nha
    4 giải thưởng Pichichi
    1 Cúp C1
    1 Cúp liên lục địa (năm 1960)
    1 Cúp Nhà vua
    Điều đáng tiếc nhất với Puskas là chưa giành được danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu, mặc dù ông rất xứng đáng với giải thưởng này.
    Thông tin :
    Cầu thủ mà ngay cả Johan Cruyff hay Franz Beckenbauer cũng luôn thán phục, còn Ronaldo, Raul, Ronaldinho luôn "nép mình" kính phục khi được diện kiến. Đó chính là Ferenc Puskas.
    Puskas khởi nghiệp với tư cách cầu thủ trẻ của CLB Kispest - nơi cha ông làm HLV. Ban đầu, trước khi được ký hợp đồng chính thức vào năm 12 tuổi, huyền thoại này đã phải chơi dưới cái tên bí mật Miklós Kovács. Cùng gia nhập Kispest với Puskas còn có ban thân thủa nối khố József Bozsik - cầu thủ mà sau đó cũng trở thành một phần quan trọng của "đế chế bóng đá" Hungary. Năm 1949, được bộ quốc phòng Hungary tiếp quản, AC Kispest trở thành đội bóng quân đội với cái tên mới là Honvéd Kispest. Vì các thành viên cũng được coi như một quân nhân nên chẳng mấy chốc nhờ thành tích đá bóng xuất sắc, Puskas được thăng hàm thiếu tá. Và biệt danh "thiếu tá siêu tốc" cũng ra đời từ đó.Do có thể tuyển quân từ nguồn lính trẻ nhập ngũ, Honved tập hợp được vô số tài năng của bóng đá Hungary. Trong số này có cả hai ngôi sao Zoltán Czibor và Sándor Kocsis. Cùng với họ, Puskas đã giúp CLB giành được 5 chức vô địch quốc gia. Ngoài ra, ông còn giành 4 danh hiệu vua phá lưới ở các mùa bóng 1947-48, 1949-50, 1950-1951 và 1952-1953 (với số bàn lần lượt là 50, 31, 25, và 27). Nếu chỉ tính mùa bóng 1947-1948, Puskas là cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất tại một giải vô địch quốc gia thuộc châu Âu.
    Khoác áp đội tuyển quốc gia lần đầu tiên vào ngày 20/8/1945 (khi mới hơn 18 tuổi), Puskas đã khởi đầu sự nghiệp quốc tế vẻ vang của mình bằng cách ghi bàn trong trận đè bẹp Áo 5-2. Từ đây, ông trở thành “cỗ máy dội bom” không thể ngừng lại của đoàn quân được mệnh danh "những phù thủy Magyar". Tính tổng cộng trong 85 lần khoác áo đội tuyển Hungary, Puskas đã có 84 lần phá lưới đối phương (một kỷ lục nếu xét về tính hiệu quả).
    Tài năng của Puskas thăng hoa nhanh chóng và tên của ông dần được cả châu Âu ghi nhớ. Tuy nhiên, khả năng chơi bóng "ma thuật" cùng kỹ năng ghi bàn bẩm sinh với cái chân trái khéo léo của Puskas chỉ thực sự được cả Thế giới thừa nhận sau màn trình diễn tuyệt vời tại sân Wembley, Anh. Đội tuyển Anh kiêu hãnh đã phải đón nhận một trận thua "tâm phục khẩu phục" với tỷ số 3-6 trước đội khách từ Đông Âu với màn trình diễn ấn tượng của Puskas và các đồng đội. Đó cũng là trận thua đầu tiên trên sân nhà của ĐT Anh trước một đối thủ không thuộc liên hiệp Anh.
    "Đó như là cuộc đấu giữa những con ngựa đua và những con ngựa nuôi. Đó là đối thủ khó nhất mà ĐT Anh từng phải đối mặt, một đội bóng tuyệt vời với một chiến thuật mà chúng tôi chưa từng gặp gặp trước đó."Tiền vệ cánh Tom Finney của đội chủ nhà thốt lên sau trận. Hungary vào thời điểm đó sử dụng sơ đồ tấn công 4-2-4 với bộ tứ tấn công trứ danh Puskas, Joszef Bozsik, Nandor Hidgekuti và Sandor Kocsis. Cũng chính những con người này sau đó 1 năm đã tiếp tục cho ĐT Anh "phơi áo" với tỷ số 1-7 tại Budapest.
    Cùng với Zoltán Czibor, Sándor Kocsis, József Bozsik và Nándor Hidegkuti, chàng thủ quân còn có một biệt danh khác là "người anh nhỏ" đã làm nên một đội tuyển quốc gia mạnh khủng khiếp trong lịch sử với chuỗi 32 trận bất bại liên tiếp. Cho đến nay, đấy vẫn là một kỷ lục hầu như không thể phá vỡ. Trong hành trình đoạt chiếc HCV Olympic 1952 (có thể coi như chức vô địch thế giới không chính thức vì các nước đều cử đội tuyển quốc gia), Hungary đã đánh bại ứng cử viên nặng ký là Nam Tư, bằng tỷ số 2-0 trong trận chung kết diễn ra tại Helsinki (Phần Lan). Puskas đã ghi 4 bàn ở giải này, trong đó có bàn mở tỷ số trận quyết định tranh huy chương vàng. Trong năm 1953, Hungary cũng thêm Cúp "Dr. Gero" - một danh hiệu dành cho các đội tuyển thuộc khu vực Trung Âu. Giải đấu bắt đầu từ năm 1948 và kéo dài suốt 5 năm. Cuối cùng, Hungary đứng đầu với 11 điểm. Puskas kết thúc giải cùng danh hiệu vua phá lưới (10 bàn), trong đó có hai bàn giúp Hungary đoạt Cúp bằng trận thắng Italy 3-0 ngay tại Rome. Với những thành tích đó Hungary đã tới Thụy Sĩ với tư cách là ƯCV số 1 và duy nhất cho chức vô địch World Cup 1954...
    "Tôi vẫn chưa hiểu tại sao ĐT Hungary của Puskas lại không thể giành chiếc cúp vàng năm 1954!"HLV Alex Ferguson của Man Utd, một người rất ngưỡng mộ tài năng của Puskas, cho biết. Quả thực, việc "Đội tuyển Vàng" của Hungary với những chiến thắng như "chẻ trẻ" trước đó không giành được chức vô địch World Cup 1954 là một bất ngờ lớn.
    Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ khi Hungary "vùi dập" Hàn Quốc tới 9-0 và "tàn sát" Tây Đức với tỷ số 8-3 trong 2 trận đầu tiên. Tuy nhiên, chấn thương gót chân ở trận gặp Tây Đức đã khiến Puskas phải nghỉ đến trước trận đấu cuối cùng.
    Trước trận chung kết với chính Tây Đức, khả năng ra sân của Puskas vẫn bị bỏ ngỏ. Tuy nhiên, sau đó, người ta vẫn thấy ông với băng đội trưởng trên tay góp mặt vào trận chung kết. Lúc đó, đã có nhiều ý kiến cho rằng, sự xuất hiện của Puskas không thật sự hợp lý bởi hàng công 4 người gồm Hidegutki, Kocsis, Budai và Czibor của Hungary đã thi đấu rất ăn ý và hiệu quả trong những trận trước đó. Mọi nghi ngờ tan biến chỉ sau 6 phút khi Puskas tận dụng cú sút đập chân hậu vệ của Kocsis để sút tung lưới Tây Đức từ cự ly gần. Tưởng như mọi chuyện tiếp tục suôn sẻ với Hungary khi Czibor tận dụng đường chuyền về bất cẩn của một hậu vệ Tây Đức để nâng tỷ số lên 2-0.
    Thế nhưng, cũng bằng một sai lầm của hàng thủ, Morlock đã nhanh chóng gỡ lại 1-2 cho ĐT Đức sau 10 phút thi đấu. Tinh thần Tây Đức lên cao và chỉ 8 phút sau bàn gỡ 1-2, Rahn đã đưa trận đấu trở về vạch xuất phát. Kể từ đó, hàng thủ Tây Đức từng để thua 8 bàn trước Hungary tại vòng bảng bỗng chơi hết sức chặt chẽ. Cùng với một chút sự trợ giúp từ trọng tài, Hungary của Puskas đã không thể thêm một lần chọc thủng lưới đối thủ. Và bi kịch đến ở phút 84 khi Uwe Rahn với một cú dứt điểm quyết đoán và hiểm hóc đã mang về chiến thắng kịch tính 3-2 cho Tây Đức. Trong những phút cuối cùng, Hungary đã vùng dậy một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, cơ hội tốt nhất của họ là pha ghi bàn của Puskas đã không được trọng tài công nhận do lỗi việt vị. Dù phản ứng rất quyết liệt nhưng tỷ số 3-2 nghiêng về Tây Đức cuối cùng cũng đã được ấn định cho trận chung kết World Cup 1954.
    Năm 1956, Honvéd tham dự Cúp C1 và gặp Athletic Bilbao ở vòng đầu tiên. Trong khi để thua 2-3 trên sân khách, thành phố đóng đô của CLB ở quê hương (thủ đô Budapest) đã trở nên hỗn loạn vì bất ổn chính trị. Sau khi phải "trả giá" vì quyết định chọn sân trung lập Heysel để thi đấu trận lượt về (hòa 3-3 và Honved bị loại bằng kết quả chung cuộc 5-6), các cầu thủ đã không chọn con đường trở về. Họ tập hợp gia đình, bất chấp lệnh cấm của FIFA cũng như liên đoàn bóng đá Hungary, để tổ chức chuyến du đấu vòng quanh thế giới, tới Italy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, và Brazil. Sau khi trở lại châu Âu, Honved hùng mạnh đã "tan đàn xẻ nghé". Một số cầu thủ, trong đó có Bozsik, trở về Hungary, trong khi số còn lại bao gồm cả Czibor, Kocsis và Puskás, đã đầu quân cho các CLB Tây Âu. Ở tuổi 29, đời cầu thủ của Puskas tưởng chừng sắp đi xuống bên kia sườn dốc lại bước sang một trang mới vẻ vang hơn.
    Quãng thời gian hòa nhập với cuộc sống mới không thực sự suôn sẻ đối với "thiếu tá siêu tốc". Sau vài trận thử việc ở Espanyol, Puskas đã bị liên đoàn bóng đá châu Âu cấm thi đấu hai năm vì quyết định từ chối trở về Hungary. Khoảng thời gian thử thách này thực sự vất vả đối với cầu thủ đã đi quá nửa sự nghiệp. Anh phải lang thang tới Áo, rồi sang Italy - nơi có tin Juve và Milan muốn kiểm chứng tài nghệ của ngôi sao hay nhất Đông Âu. Nhưng cuối cùng, chẳng biết bằng cách nào và quyết tâm lớn đến đâu, Real Madrid đã dũng cảm ký hợp đồng với lão tướng 31 tuổi. Đó là một tân binh vừa trải qua hai năm tròn không được chơi bóng đỉnh cao nhưng lại là nhân vật chính của một trong những quyết định đúng đắn nhất mà CLB Hoàng gia từng đưa ra.
    Trong 8 mùa bóng khoác áo "kền kền trắng", Puskas đã ghi được 156 bàn trong 180 trận tại La Liga. Về khoản danh hiệu nội địa, ngoài 5 chức vô địch Tây Ban Nha liên tiếp (1961-1965), "thiếu tá siêu tốc" còn sưu tập thêm 4 giải thưởng Pichichi (vua phá lưới) ở các năm 1960, 1961, 1963, 1964 (khi đã 37 tuổi) với số bàn thắng lần lượt là 26, 27, 26 và 20. Trên đấu trường Cúp C1, tuy gánh nặng tuổi tác đè chặt, nhưng Puskas vẫn kịp chơi 39 trận và ghi được 35 bàn. Đáng kể nhất trong số này là 7 lần lập công bàn ở hai trận chung kết. Đầu tiên là ở mùa bóng 1959/1960, thời điểm ông bùng nổ cùng Di Stefano giúp CLB đè bẹp Frankfurt 7-3 (Puskas 4 bàn, Di Stefano 3 bàn). 3 bàn còn lại được ông ghi trong trận chung kết diễn ra 2 năm sau, khi Real bị Benfica đánh bại với tỷ số 5-3. Tuy chỉ giành một chiếc Cúp C1 cùng Real nhưng tên tuổi Puskas vĩnh viễn được xếp vào hàng ngũ huyền thoại của CLB này cũng như trong lịch sử bóng đá châu Âu.
    Puskas nhận hộ chiếu Tây Ban Nha vào năm 1961 và chơi cho ĐTQG nước này 4 trận nhưng không ghi được bàn thắng nào, trong đó, có 1 trận thắng và 2 trận thua tại Vòng Chung Kết World Cup 1962 tại Chile. Ferenc Puskas "treo giày" vào 30/06/1967 trước khi tiếp tục góp mặt trong một trận chung kết cúp châu Âu khác cùng Panathinaikos trên cương vị HLV và để thua 0-2 trước Ajax Amsterdam. Sự nghiệp huấn luyện của huyền thoại bóng đá người Hungary này sau đó còn gắn bó với AEK Athens (Hi Lạp), Sol (Paraguay) và Colo Colo (Chile) trước khi ông trở về Hungary năm 1993 và tham gia huấn luyện ĐTQG nước này trong một thời gian ngắn. Ngày 17 tháng 11 năm 2006,ông mất do bệnh viêm phổi tại Budapest, thọ 79 tuổi.
    Puskas luôn theo dõi bóng đá, thường đi xem các trận đấu nhưng không nhận thấy thứ bóng đá mà ông từng say mê. "Bóng đá đã mất đi tính hiếu khách của nó. Tôi chẳng hạn, tôi là bạn của những cầu thủ đã cùng chơi nhưng nhiều người trong số ấy là đối thủ trên sân của tôi. Tôi không tin mọi người bây giờ lại cư xử với nhau như vậy. Bây giờ sau buổi tập mọi người về nhà còn trước kia chúng tôi thích ngồi lại với nhau. Bây giờ ở Hung có nhiều cầu thủ giỏi nhưng họ không tin vào những điều chúng tôi đã tin và không nghe các lời khuyên. Bóng đá thay đổi nhiều quá". Ông không hài lòng với tình hình nhưng Pancho đáng yêu không hề bực mình. Ông trung thành với những kỉ niệm ("nếu tôi 20 tuổi tôi vẫn sẽ chơi cho Honved hoặc Real" - ông khẳng định), với lối chơi mà ông đã đem lại vinh quang cho nó, với những bạn chí cốt ở ĐT Hung vĩ đại mà hiện chỉ còn sống có 5 người kể cả ông. Thực ra con người giản dị và kín đáo này bỗng bằng lòng với những gì mình đã có và để biểu hiện điều đó ông lại dùng hình ảnh của bóng đá "Đã từ lâu tôi hiểu rằng người ta không thể ngày nào cũng đặt quả bóng vào 1 chỗ..."
    Có tóc đâu ai muốn trọc đầu
    Trả lời có trích dẫn Trả lời có trích dẫn Like  

  10. #10
    Nhất giai cao thủ zZzÂn Thừa PhongzZz's Avatar
    Ngày tham gia
    27-05-2010
    Đến từ
    Can Tho city
    Bài viết
    625
    UserID
    1304622
    Danh vọng
    1594
    Lúa
    4,912
    Tiềm năng
    0

    Mặc định

    BÁO ĐEN EUSEBIO

    Hồ sơ :
    - Tên đầy đủ: Eusebio da Silva Ferreira
    - Sinh ngày 25/1/1942 tại Lourenco Marques, Mozambic
    - Cao 1,77 m
    - Vị trí thi đấu: Tiền đạo
    - Biệt danh: Viên ngọc đen, Báo đen
    - Các CLB: Sporting Lourenco Marques (1957-1960), Benfica (1960-1975), Rhode Island Oceaneers (1975), Boston Minutemen (1975), Monterrey (1975-1976), Beira-Mar (1976-1977), Toronto Metros-Croatia (1976), Las Vegas Quicksilver (1977), New Jersey Americans (1977-1978), Uniao Tomar (1977-1978)
    - Với ĐT Bồ Đào Nha (1961-1973): 64 trận/41 bàn
    Thành tích:
    Hạng ba thế giới 1966; Vua phá lưới World Cup 1966; Cúp C1 châu Âu (1962); 10 lần VĐ Bồ Đào Nha (1963, 1964, 1965, 1967, 1968, 1969, 1971, 1972, 1973, 1974); Cúp QG Bồ Đào Nha (1962, 1964, 1969, 1970, 1972); VĐ Mexico (1976); VĐ giải Bắc Mỹ NASL (1976); Quả bóng vàng châu Âu (1965); Quả bóng bạc châu Âu (1962, 1966); Vua phá lưới giải VĐ Bồ Đào Nha (1964, 1965, 1966, 1967, 1968, 1970, 1973); Chiếc giày vàng châu Âu (1968, 1973), Cầu thủ xuất sắc nhất Bồ Đào Nha (1970, 1973);
    Thông tin :
    Eusebio chính là tên tuổi vĩ đại nhất của bóng đá Bồ Đào Nha. Sinh ra ở Mozambique, Eusebio trở thành cầu thủ gốc Phi đầu tiên đạt "tầm quốc tế" ở vị trí tiền đạo trung tâm. Người ta thường gọi ông là "con báo đen" trước khung thành đối phương, hay "viên ngọc đen" của bóng đá Bồ Đào Nha.
    Năm 15 tuổi, Eusebio đã bắt đầu chơi trong đội trẻ của Lourenco Marques. Năm 18 tuổi, Eusebio được đôn lên chơi ở đội hình 1 của Lourenco Marques. Ngay trong mùa bóng đầu tiên chơi cho Lourenco Marques, Eusebio đã giành danh hiệu vua phá lưới của giải, còn Câu lạc bộ Lourenco Marques đoạt chức Vô địch quốc gia Mozambique.
    Vào thời điểm kết thúc mùa bóng đầu tiên của Eusebio trong đội hình chính của Lourenco Marques, một câu lạc bộ cực kỳ nổi tiếng của Brazil là Sao Paulo có một chuyến du đấu ở châu Âu. Nhưng trước khi tới châu Âu, câu lạc bộ này có một chặng dừng chân ở Mozambique và thi đấu với một đội bóng của địa phương. Là đương kim vô địch quốc gia sau giải đấu trong năm vừa mới kết thúc nên Câu lạc bộ Lourenco Marques của Eusebio được vinh dự cử ra thi đấu với Sao Paulo. Trong trận đấu đầy tính hữu nghị này, cầu thủ dội bom của giải Mozambique, chàng trai Eusebio, đã không bỏ lỡ cơ hội ghi luôn hai bàn thắng vào lưới Sao Paulo. Huấn luyện viên của đội Sao Paulo khi ấy là Jorge Bauer lập tức đưa ra đề nghị với Câu lạc bộ Lourenco Marques, xin mua lại Eusebio. "Được thôi - những người lãnh đạo Câu lạc bộ Lourenco Marques nói - chỉ cần đặt lên bàn 20.000 USD phí chuyển nhượng, các anh sẽ có ngay Eusebio!". Thế nhưng Chủ tịch Câu lạc bộ Sao Paulo gạt phắt. Việc gì phải bỏ ra tới 20.000 USD cho một chàng trai tỉnh lẻ vô danh chưa ai biết tới!
    Sao Paulo tiếp tục cuộc du đấu theo như lịch trình tới thủ đô Lisbon của Bồ Đào Nha và ở đây, một lần nữa sự ngẫu nhiên lại là yếu tố quyết định số phận của Eusebio. Chỉ do một sự run rủi tình cờ mà hôm ấy, huấn luyện viên của Câu lạc bộ Benfica Bela Guttmann đi vào một tiệm cắt tóc ở Lisbon, đúng tiệm mà Jorge Bauer cũng đang ngồi chờ cắt tóc. Trong câu chuyện phiếm, Bauer đã kể lại câu chuyện ông ta mua hụt một chàng trai ở xứ Đông Phi. "Này, chàng trai ấy có thể là một thiên tài bóng đá đấy" - Bauer kết thúc câu chuyện của mình như vậy. Trở về Benfica, Bela Guttmann lên gặp Chủ tịch của câu lạc bộ và nói: "Nếu như Bauer nghĩ rằng chàng trai đó xứng đáng với cái giá 20.000 USD thì hẳn đó phải là một cầu thủ khá. Tôi muốn tự mình xem xét đánh giá và sẽ đưa ra quyết định".
    Năm tuần sau, Bela Guttmann bay tới Lourenco Marques và sau khi chứng kiến Eusebio dượt vài cữ trên sân cỏ, Guttmann quyết định phải có bằng được viên ngọc thô này. Vốn là một nhà đàm phán cáo già, Bela Guttmann tỉnh bơ mặc cả với những người trong ban lãnh đạo câu lạc bộ và cuối cùng, giá chuyển nhượng được xác định là 7.500 bảng Anh. Để nắm chắc, Guttmann yêu cầu hợp đồng Eusebio thi đấu cho Benfica phải được ký ngay. Eusebio - người vốn rất sợ đi máy bay - cùng với Guttmann bay về Lisbon và khi ấy những rắc rối bắt đầu.
    Câu lạc bộ Sporting Lisbon nghe phong thanh chuyện đối thủ của nó là Benfica vừa mới ký hợp đồng với một cầu thủ trẻ tài năng ở Mozambique liền lập tức cho điều tra và xác định ngay được rằng cầu thủ đó là Eusebio, từ Câu lạc bộ Lourenco Marques. Vốn là câu lạc bộ "mẹ" của Lourenco Marques nên Sporting Lisbon liền lớn tiếng tuyên bố rằng Eusebio là người của Sporting, rằng Benfica đã tổ chức "bắt cóc" cầu thủ của họ và cuộc chuyển nhượng là bất hợp pháp. Sporting Lisbon đem vụ việc lên khiếu nại ở Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha và khi thấy không ăn thua gì liền đưa vụ việc ra tòa án.
    Đó quả thật là một trong những vụ tranh chấp cầu thủ đầu tiên gay gắt nhất trong lịch sử bóng đá thế giới xoay quanh vấn đề chuyển nhượng. Vụ việc kéo dài tới hơn bảy tháng trời và dữ dội tới mức trong suốt thời gian đó, Eusebio phải đi... trốn! Cùng với hai người trong ban huấn luyện của Benfica, Eusebio được bí mật đưa tới một khách sạn đơn sơ ở một làng chài nhỏ yên bình nằm tại khu vực bờ biển Algarve, miền nam Bồ Đào Nha. Trong suốt hơn bảy tháng trời, Eusebio quanh quẩn cùng với những người dân chài hiền lành, thui thủi tập luyện một mình với bóng trên bãi biển. Đó quả thật không phải là cái hình ảnh mà Eusebio vẫn thường tưởng tượng ra trong những giấc mơ về việc chuyển sang châu Âu thi đấu!
    Khi cuộc tranh chấp ngã ngũ, Eusebio chính thức trở thành cầu thủ Benfica năm 1961 với giá chuyển nhượng khoảng 20.000 USD. Đây là một thất bại mất mặt của Sporting Lisbon cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhất là khi họ phải chứng kiến Eusebio đã góp phần lớn thế nào vào thành công của Benfica.
    Eusebio là mẫu tiền đạo độc lập. Với tốc độ, kỹ thuật và sức mạnh, ông biết tự tạo cơ hội cho mình chứ không quá phụ thuộc vào sự hỗ trợ của tuyến dưới. Với khả năng tăng tốc mạnh mẽ và xử lý bóng ma thuật như mèo vờn chuột, ông luôn có những pha rê dắt bóng lắt léo và rất khó ngăn chặn. Chúng đã trở thành một vũ khí hoàn hảo trước bất kỳ hàng phòng ngự nào ngay từ những trận đấu ngoài đường phố trong tuổi thơ ở Mozambic và cũng nhanh chóng bộc lộ sức công phá khi tới Bồ Đào Nha.
    Eusebio đã có bàn thắng đầu tiên ngay trong trận thứ hai ra sân chơi cho đội 1 Benfica. Trong trận CK giải giao hữu ở Paris đó (Benfica thua Santos 3-6), Eusebio đã có một hat-trick vào lưới đội bóng Brazil mà lúc đó có một cái tên đã trở thành ngôi sao từ World Cup 1958, Pele. Một ngôi sao mới đã được phát hiện sau trận đấu này. Tốc độ tia chớp và cái chân phải lợi hại của của Eusebio đã làm Pele và cả thế giới kinh ngạc.
    Những bàn thắng tuyệt vời đó chỉ là điểm khởi đầu cho một chuỗi dài bất tận các bàn thắng mà Viên ngọc đen xứ Mozambic cống hiến cho “Những chú đại bàng” - biệt danh của Benfica. Eusebio ghi được 727 bàn trong 715 trận khoác áo Benfica, trong đó có 317 bàn trong 301 trận chơi ở giải VĐ Bồ Đào Nha. Ảnh hưởng to lớn của Eusebio đến thành công của Benfica được thể hiện rõ từ năm 1962. Khi không có ông, đội ĐKVĐ Cúp C1 đã thất bại 1-3 trong trận tứ kết lượt đi gặp Nuremberg. Với sự trở lại của Eusebio, Benfica đã có chiến thắng thuyết phục 6-0 ở lượt về. Ở tuổi 20, ông đã trở thành nguồn cảm hứng đằng sau chiến thắng của Benfica ở Cúp C1 châu Âu, đặc biệt là 2 bàn trong chiến thắng 5-3 của đội bóng Bồ Đào Nha trước Real Madrid hùng mạnh của huyền thoại Alfredo Di Stefano. Ông cũng cùng Benfica có thêm 3 lần nữa lọt vào tới CK Cúp C1 dù không giành được chiến thắng (các năm 1963, 1965 và 1968).
    Với phong độ ghi bàn xuất sắc ở Benfica, Eusebio được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu năm 1965 và tới năm 1968 là người đầu tiên nhận giải thưởng Chiếc giày vàng dành cho cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất ở các giải VĐQG châu Âu. Ông cũng là 7 lần là vua phá lưới giải VĐ Bồ Đào Nha, giúp Benfica giành 10 chức VĐQG và 5 Cúp QG.
    Eusebio chơi trận đầu tiên cho ĐTQG BĐN gặp Luxembourg ngày 19/10/1961 trong khuôn khổ vòng loại World Cup 1962, trận đấu mà BĐN đã thua 2-4. Thế nhưng phải tới vòng loại World Cup 1966 thì Eusebio mới thực sự tạo được dấu ấn khi ông ghi 7 bàn để giúp Bồ Đào Nha lần đầu tiên lọt vào một Vòng Chung Kết World Cup. Mặc dù được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu năm 1965 nhưng chính ở sự kiện bóng đá quốc tế lớn nhất hành tinh vào năm sau đó thì Eusebio mới thực sự được công nhận như một hiện tượng, một tài năng hiếm có trong môn thể thao vua, và đi vào lịch sử bóng đá thế giới với tư cách một trong những người vĩ đại nhất.
    Ở trận đầu ra quân, Bồ Đào Nha hạ gục Hungary với tỷ số 3-1. Mặc dù trận đấu này, Eusebio không ghi được bàn thắng nào, nhưng ở trận đấu với Bulgarie, ông đã để lại dấu ấn bằng bàn thắng nâng tỷ số lên 2-0 cho đội nhà. Trận đấu đó, Eusebio và các đồng đội giành thắng lợi chung cuộc 3-0. Nhưng đó chưa phải là những gì ghê gớm nhất của "báo đen" ở mùa giải năm đó. Trong trận đấu thứ 3 ở vòng bảng, đối thủ của ông và các đồng đội là Brazil với Pele trong đội hình. Tuy nhiên, sự nổi tiếng của tiền đạo xứ sở Samba cũng không giúp được Brazil tránh được thất bại trước đội bóng được biệt danh là "Brazil của châu Âu", và người tỏa sáng nhất trong trận đấu đó không ai khác, chính là Eusebio với cú đúp ở các phút 27 và 85.
    Ngôi sao của Bồ Đào Nha năm đó tiếp tục thể hiện một phong độ gây sửng sốt làng bóng đá thế giới ở trận tứ kết với Triều Tiên. Với 4 bàn thắng của Eusebio, Bồ Đào Nha đã hoàn thành cuộc lội ngược dòng sau khi đã bị dẫn trước 3-2 ở hiệp một. Chiến thắng 5-3 trong trận đấu đó không chỉ giúp Bồ Đào Nha lọt vào trận bán kết mà còn khẳng định thêm tài năng hiếm có của "viên ngọc đen" xuất sắc xuất xứ từ Mozambique. Mặc dù đội bóng này cuối cùng cũng đã phải dừng chân trước đội chủ nhà Anh quốc trong trận bán kết, nhưng Eusebio cũng đã kịp ghi thêm một bàn thắng nữa ở chấm phạt đền trong trận thua 1-2 của đội nhà. Cộng thêm bàn thắng mở tỷ số trong trận thắng Liên Xô 2-1 (tranh giải ba), Eusebio đã trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất của giải đấu năm đó, với 9 bàn thắng tất cả. Sau này, khi nói về chiến công lẫy lừng năm 1966, Eusebio cho biết: "World Cup năm đó là một trong những giây phút tuyệt vời nhất trong sự nghiệp thi đấu của tôi. Mặc dù chúng tôi đã không vượt qua được đội chủ nhà, nhưng như thế là quá đủ để bóng đá Bồ Đào Nha có thể ăn mừng."
    Với 9 bàn thắng, Eusebio trở thành Vua phá lưới của giải. Ngoài ra, Eusebio cũng lập kỷ lục năm đó về số quả đá penalty thành bàn là 4 (không tính đá luân lưu 11m). 4 bàn thắng của Eusebio trong trận gặp CHDCND Triều Tiên ở trận tứ kết cũng giúp Bồ Đào Nha san bằng kỷ lục về lội ngược dòng để chiến thắng sau khi bị dẫn (3 bàn, ngang với Áo năm 1954). Dù thắng Bồ Đào Nha nhưng những người Anh quá ấn tượng với những màn trình diễn của Eusebio nên ngay lập tức đã bổ sung ông vào danh sách bộ sưu tập người sáp của bảo tàng sáp lừng danh Madame Tussauds. Tuy nhiên, Eusebio không còn cơ hội chơi thêm ở một Vòng Chung Kết World Cup nào nữa dù ông đã tham gia các chiến dịch vòng loại 1970 và 1974. Trận cuối cùng của ông cho ĐTQG Bồ Đào Nha là trận hoà 2-2 với Bulgaria ngày 19-10-1973 tại vòng loại World Cup 1974.
    Nhìn lại, có lẽ điều đáng tiếc lớn nhất cho sự nghiệp thi đấu trong màu áo ĐTQG của Eusebio chính là việc cầu thủ xuất chúng này đã không có được những đồng đội đẳng cấp thế giới để vươn tới vinh quang ở những World Cup sau đó, khi mà họ thậm chí còn không đủ sức vượt qua vòng loại. Nếu may mắn hơn, Eusebio hoàn toàn có khả năng trở thành cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất ở các Vòng Chung Kết World Cup xét theo tài năng và thực tế là ông đã có được tới 9 bàn chỉ trong một Vòng Chung Kết.
    Chia tay Benfica năm 1975 do chấn thương đầu gối nghiêm trọng, Eusebio vẫn kéo dài được sự nghiệp thi đấu vài năm nữa ở các CLB nhỏ hơn. Sau khi sang Mỹ, chỉ trong phần còn lại của năm 1975, ông đã lần lượt chơi cho 2 CLB là Rhode Island Oceaneers và Boston Minutemen. Sau đó là 10 trận chơi cho CF Monterrey ở giải VĐ Mexico và 12 trận cho SC Beira-Mar ở giải hạng nhì Bồ Đào Nha trước khi trở lại giải VĐ Bắc Mỹ (NASL) trong màu áo Toronto Metros-Croatia (1976). Mùa bóng thành công nhất của ông ở NASL chính là năm 1976 với Toronto Metros. Eusebio ghi bàn trong chiến thắng 3-0 để giành chức VĐ NASL.
    Mùa bóng sau đó (1977) ông ký hợp đồng chơi cho Las Vegas Quicksilver. Đây có thể coi là điểm kết thúc đáng thất vọng trong sự nghiệp thi đấu lừng lẫy của Eusebio. Vào thời gian này, các chấn thương không ngừng hành hạ “Viên ngọc đen” và ông liên tục phải nhờ cậy tới bộ phận y tế khi chơi cho Quicksilvers. Trong mùa bóng đó, ông chỉ ghi được 2 bàn. Mặc dù những cái đầu gối bất trị đã cướp đi của ông khả năng tiếp tục chơi ở NASL, Eusebio vẫn chưa muốn thôi. Ông lần lượt đầu quân cho New Jersey Americans ở Mỹ rồi Uniao Tomar ở Bồ Đào Nha song đều không một lần được ra sân vì sức khoẻ không đảm bảo. Ở tuổi 36, báo đen Mozambic buộc phải treo giầy song vẫn tiếc nuối khi phải dừng cuộc chơi.
    Để tôn vinh cầu thủ vĩ đại nhất của bóng đá Bồ Đào Nha, một bức tượng đồng tạc hình “báo đen” Eusebio đã được đặt tại một vị trí trang trọng bên ngoài SVĐ Ánh sáng (Estadio da Luz) của Benfica. Ngày ngày, những người hâm mộ bóng đá từ khắp nơi lại hân hoan tới chụp ảnh bên bức tượng của một thiên tài.
    Có tóc đâu ai muốn trọc đầu
    Trả lời có trích dẫn Trả lời có trích dẫn Like  

Trang 1 trong 3 123 Cuối cùngCuối cùng

Quyền hạn

  • Bạn không có quyền viết bài mới
  • Bạn không có quyền viết bài trả lời
  • Bạn không có quyền gửi tập tin đính kèm
  • Bạn không có quyền chỉnh sửa bài
  •